Tác giả: admin

  • Trước Lúc Mất, Cha Tiết Lộ Ở Bắc Có Vợ Con, Tôi Lặn Lội Tìm Chị Gái Và Sững Sờ Khi Gặp Mặt!

    Trước Lúc Mất, Cha Tiết Lộ Ở Bắc Có Vợ Con, Tôi Lặn Lội Tìm Chị Gái Và Sững Sờ Khi Gặp Mặt!

    Ba rưỡi mình trên giường bệnh, mắt hé mở, ra hiệu tôi lại gần. Hơi thở yếu ớt nhưng gấp gáp. “Nam, con lại gần đây. Ba có chuyện muốn nói.”

    Má tôi định bước tới, ba liếc bà rồi nhìn tôi. Tôi hiểu. Tôi xin má ra ngoài. Khi cánh cửa khép lại, ba chỉ vào tủ đầu giường. “Trong tủ có một cái hộp sắt. Lấy ra đây cho ba.”

    Tôi mở ngăn tủ, lôi ra chiếc hộp cũ đã han rỉ. Ba run run vuốt nắp. “Chuyện này ba đã giấu kín mấy chục năm. Ba sợ không còn nhiều thời gian. Con phải hứa với ba, sau khi ba đi rồi, con sẽ thay ba làm một việc.”

    Tôi nắm tay ông. “Ba cứ dặn, con xin hứa.”

    Ba hít một hơi sâu. “Trước khi vào Nam, trước khi gặp má con, ba đã có một đời vợ ngoài Bắc. Ba và người ấy có với nhau một đứa con gái. Con bé tên Lan. Con còn có một người chị gái, Nam à.”

    Từng lời như sét đánh ngang tai. Tôi sững người. Ba khóc. Lần đầu tiên trong đời tôi thấy ba khóc.

    “Chiến tranh loạn lạc đã chia cắt. Bao năm rồi bặt tin. Mấy chục năm qua ba luôn sống trong day dứt. Ba không dám nói vì sợ làm khổ má con, sợ gia đình tan nát.”

    Ông ho lên một tràng dài. Tôi vuốt ngực cho ông, lòng đau như cắt. Trong chiếc hộp sắt kia còn cất giấu những bí mật gì?

    Tang lễ ba trang trọng. Má suy sụp. Tôi kể hết cho má nghe. Bà chỉ im lặng rất lâu rồi thở dài. “Thảo nào mấy chục năm nay có những đêm ông ấy ngồi một mình ngoài hiên thở dài. Hóa ra trong lòng ông ấy còn gánh nặng lớn đến vậy.”

    Tôi mở hộp sắt. Mùi ẩm mốc của giấy tờ cũ xộc lên. Sấp ảnh đen trắng ố vàng. Người phụ nữ trẻ khuôn mặt trái xoan, mắt to đen láy, tóc tết gọn – mẹ ruột tôi. Bên cạnh ba thời trai trẻ, ánh mắt hạnh phúc. Tấm ảnh thứ hai: ba bế một bé gái bụ bẫm, má phúng phính, mắt đen láy giống mẹ. Chị Lan.

    Dưới ảnh là tập thư chưa gửi. Bức đầu đề 1975: “Em và con yêu quý. Anh đã vào đến Sài Gòn bình an…” Càng đọc lòng tôi càng thắt. Ba viết về nỗi nhớ, về ngày gặp má tôi, về tội lỗi. “Anh đã phụ lòng em. Mỗi khi bế thằng Nam, anh lại nhớ đến con Lan. Anh là một thằng tồi…”

    Ở đáy hộp một mẫu giấy nhỏ: nhà ông giáo Hải, ngõ Vườn Xoài, thị xã Phủ Lý, tỉnh Hà Nam.

    Tôi mua vé tàu thống nhất. Má gật đầu. “Con đi đi. Đó là việc phải làm. Thay má thắp cho bà ấy một nén nhang. Còn chị con, nếu gặp được hãy đối xử tốt.”

    Tàu chạy hai ngày. Tôi mang theo hộp sắt và hũ tro cốt ba. Đến Phủ Lý, thuê xe ôm vào ngõ 128 Trần Hưng Đạo – ngõ Vườn Xoài ngày xưa. Bà cụ bán nước chè lắc đầu. “Ông giáo Hải lâu lắm rồi không nghe ai nhắc.” Bà chỉ tôi đến nhà bà Ba ở cuối ngõ.

    Bà Ba nhìn tấm ảnh ba và mẹ tôi, kêu thất thanh. “Trời ơi, cậu Hải đúng rồi. Còn đây là cái Hà.” Rồi bà chỉ khu đất hoang đối diện. “Nhà ông giáo Hải ngày xưa ở kia, nhưng bỏ hoang mấy chục năm, giờ chỉ còn nền.”

    Tôi nhìn mảnh đất cỏ dại mọc cao, cây khế già khẳng khiu. Hy vọng vừa nhen nhóm vụt tắt.

    Bà Ba kể: mẹ tôi chờ chồng cả đời. Ngày nào cũng bế con ra đầu ngõ ngóng. Làm đủ nghề để nuôi con. Nhà bị bom sập một góc, dựng lều tạm. Cách đây hơn mười năm mẹ yếu dần vì bệnh tim, mất trong một đêm mùa đông giá rét. Mộ ở nghĩa trang xã.

    Còn chị Lan? Bà thở dài. “Số nó còn khổ hơn cả mẹ.” Năm lên năm, chị sốt cao co giật, để lại di chứng. Trí tuệ dừng lại ở tuổi năm. Mẹ nhất quyết không gửi trại. Trước khi mất, mẹ gả chị cho một người đàn ông tên Trung, gốc Nghệ An, mồ côi, hiền lành. Trung đưa chị về Nghi Lộc. Hơn hai mươi năm không tin tức.

    Tôi lên tàu đêm đi Vinh ngay.

    Sáng sớm đến ga Vinh, xe buýt về Nghi Lộc. Ở ủy ban xã, anh cán bộ tìm được: Nguyễn Văn Trung sinh 1965, vợ Phan Thị Lan sinh 1970, xóm Bầu Sen. Anh nói giọng ái ngại: “Hoàn cảnh đặc biệt lắm. Anh Trung một mình gánh vác cả gia đình.”

    Xe ôm đưa tôi vào con đường đất đỏ. Bác tài thở dài. “Anh Trung là người hiền lành nhất xóm, nhưng số hẩm hiu. Người ta gọi đùa ảnh là gà trống nuôi con.”

    Tôi đứng trước cánh cổng tre siêu vẹo. Ngôi nhà ba gian tường đất bong chóc, mái ngói xô lệch phủ rêu. Tôi gọi. Cánh cửa mở. Người phụ nữ bước ra. Quần áo bà ba nâu sờn, tóc bạc búi gọn, dáng gầy. Khi bà ngẩng lên, thế giới tôi sụp đổ.

    Đôi mắt to tròn, trong veo nhưng ngơ ngác vô hồn như đứa trẻ. Chị nhìn tôi không cảm xúc.

    Đây là chị Lan sao? Cô bé bụ bẫm trong ảnh đâu rồi?

    Tôi đứng chết lặng. Nước mắt trào ra………….

    Tiếng đàn ông từ sau nhà: “Lan, ai đó em?” Anh Trung bước ra, da xạm, áo may ô ngả màu, vác cuốc. Anh nhìn tôi cảnh giác. “Ông tìm ai?”

    Tôi run. “Tôi tên Nam, từ Sài Gòn ra. Tôi là em trai chị Lan.”

    Anh sững. Tôi đưa tấm ảnh ba. Anh run cầm lấy. “Đây đúng là ba vợ tôi rồi. Mẹ vợ tôi trước khi mất có cho tôi xem một tấm y như thế này.”

    Anh quay sang chị. “Lan ơi, em trai của em về thăm em này.” Chị vẫn ngơ ngác.

    Anh mời tôi vào. Nhà trống hoác, bàn thờ nhỏ, giường tre cũ, nền đất nện sạch sẽ. Anh bưng nước trà. “Nhà không có gì đãi cậu.”

    Anh kể: lời hứa với mẹ vợ trước khi mất. “Tôi coi Lan như máu thịt. Không thương nó thì còn ai.” Hơn hai mươi năm, anh dậy sớm nấu cháo đút cho chị, tắm rửa, thay quần áo, rồi mới đi làm thuê. Trưa chạy về lo cơm. “Nó như đứa trẻ con. Cứ quanh quẩn như thế suốt hơn hai mươi năm.”

    Tôi ngồi nghe, lòng quặn thắt. Người đàn ông này đã thay cha mẹ tôi gánh trách nhiệm quá lớn.

    Tôi lấy tấm ảnh ba ra, ngồi xổm trước chị. “Chị Lan ơi, chị nhìn em này. Chị xem, chị có nhận ra ai đây không?”

    Anh Trung ngồi bên, nhẹ nhàng: “Lan à, em nhìn cho kỹ.”

    Chị nhìn ảnh lâu. Đôi mắt trống rỗng chợt lóe một tia sáng. Đôi môi mấp máy. Ngón tay gầy run chỉ vào ảnh. Rồi một âm thanh khó nhọc nhưng rõ ràng:

    “Bố…”

    Tôi gục đầu ôm mặt khóc nức. Chị nhận ra. Chị vẫn còn nhớ ba.

    Anh Trung ôm vợ, mắt đỏ hoe. Tôi ngẩng lên. Chị lại lẩm bẩm: “Bố.”

    Tôi xin ở lại vài ngày. Anh gật. Tối đó bữa cơm rau luộc, cà pháo, cá kho mặn chát nhưng ấm nhất đời tôi. Anh gắp thức ăn lia lịa vào bát tôi. Chị thỉnh thoảng ngước nhìn tôi bằng đôi mắt trong veo.

    Những ngày sau tôi chứng kiến sự hy sinh của anh. Trời chưa sáng anh đã dậy nhóm bếp, đút cháo, tắm rửa cho chị, rồi mới ra đồng. Tôi xắn tay phụ. “Em là em vợ anh. Để em san sẻ.”

    Tôi lấy bọc tiền tiết kiệm. “Số này là của ba em. Món nợ ba nợ mẹ, nợ chị, nợ cả anh. Anh nhận vì chị Lan.”

    Anh lắc đầu. Tôi nắm tay anh. “Xin anh đừng từ chối. Đừng để ba dưới suối vàng day dứt thêm.”

    Anh khóc. Gật đầu.

    Sáng hôm sau tôi thưa: “Em mang theo hũ tro cốt ba. Em muốn để ba yên nghỉ ở đây, gần chị.”

    Anh đề nghị đưa về cạnh mộ mẹ. Tôi lắc. “Mẹ đã chờ ba cả đời. Em muốn ba ở gần con gái.” Tôi chỉ gốc khế già trước sân. “Mỗi ngày chị ra sân, ba đều nhìn thấy chị.”

    Hai anh em đào huyệt dưới gốc khế. Tôi đặt hũ tro xuống. Chị ôm ảnh ba đứng nép sau lưng anh. Khi ngôi mộ vun tròn, nắng chiều xuyên kẽ lá. Chị vẫn ôm ảnh, miệng lẩm bẩm điều gì không rõ.

    Tôi tin linh hồn ba và trái tim chị đã kết nối.

    Tháng sau tôi trở lại. Ngôi nhà đã được xây lại khang trang hơn bằng số tiền tôi gửi và sự giúp đỡ hàng xóm. Chị hồng hào hơn. Lần này vừa đến đầu ngõ tôi gọi: “Chị Lan ơi, em về thăm chị này.”

    Chị quay lại. Đôi mắt sáng lên. Nụ cười ngây thơ nở. Rồi chị gọi rõ ràng:

    “Em…”

    Tôi chạy tới ôm chị. Vòng tay gầy yếu nhưng ấm nhất đời.

    Từ đó mỗi lần về, chị nhận ra tôi. Quấn quýt bên tôi, khoe hoa dại, chỉ chiếc radio anh mới mua. Dù tâm trí vẫn như đứa trẻ, tình cảm chị dành cho tôi là thật.

    Tôi ngồi dưới gốc khế, thắp nhang cho ba. Không còn day dứt. Tôi tin ba và mẹ đang mỉm cười vì con cái họ đã tìm thấy nhau.

    Hành trình tìm cội nguồn khép lại. Nhưng hành trình của tình thân chỉ vừa bắt đầu. Ngoài sân, gió chiều thổi nhẹ qua tán khế. Chị ngồi bên anh, tay vẫn cầm tấm ảnh cũ. Tôi đứng nhìn, lòng thanh thản và trống trải cùng lúc. Có những khoảng trống không gì lấp đầy được, chỉ còn cách ngồi cạnh chúng, để chúng ở đó, lặng lẽ, như ngôi mộ nhỏ dưới gốc cây già.

  • 2 Giờ Sáng,Co/n G/ái Tôi G/ào Th/ét: “Mẹ Ơi,Chỗ Ấ/y Co/n Đ/au Q/uá!”Tôi Vội Ôm Con Đị Việ/n.Bác Sĩ Ru/n R/ẩy… Báo Công An Đi………..

    2 Giờ Sáng,Co/n G/ái Tôi G/ào Th/ét: “Mẹ Ơi,Chỗ Ấ/y Co/n Đ/au Q/uá!”Tôi Vội Ôm Con Đị Việ/n.Bác Sĩ Ru/n R/ẩy… Báo Công An Đi………..


    2 Giờ Sáng,Co/n G/ái Tôi G/ào Th/ét: “Mẹ Ơi,Chỗ Ấ/y Co/n Đ/au Q/uá!”Tôi Vội Ôm Con Đị Việ/n.Bác Sĩ Ru/n R/ẩy… Báo Công An Đi………..

    Tôi bật dậy lúc 2 giờ sáng vì tiếng g/ào th/ất tha/nh của con.

    “Mẹ ơi! Con đa/u q/uá!”

    Chân tôi không kịp xỏ dép. Cánh cửa phòng Khánh Linh vừa mở, tôi gần như kh/uỵu xuống. Con bé co qu/ắp trên giường, hai tay ôm chặt bụng dưới, mặt trắ/ng bệ/ch, tóc bết mồ hôi, môi tí/m t/ái. Trên ga giường màu kem, những vệt m/áu loa/ng ngà/y cà/ng r/ộng.

    Tôi h/ét xuống tầng một. “Anh Khải! Dậy mau! Đưa con đi vi/ện!”

    Không có tiếng trả lời. Phòng làm việc trống không. Xe cũng biến mất.

    Cửa phòng mẹ chồng mở bật. Bà Xư/ơng chạy ra, áo len cài l/ệch khuy. Vừa nhìn thấy Khánh Linh, mặt bà trắ/ng bệ/ch. Thay vì hỏi cháu đau thế nào, bà túm lấy cổ tay con: “Tối qua cháu ăn gì? Có ăn món nào trong tủ lạnh không?”

    Khánh Linh thều thào: “Cháu ăn canh gà bà để cho mẹ…”

    Bà Xương lả/o đả/o lùi lại, bàn tay vịn chặt thành giường. “Không thể nào… món đó là để cho mẹ cháu ăn cơ mà.”

    Tôi nhìn bà. “Mẹ nói gì?”

    Bà giật mình, vội lắc đầu. “Ý mẹ là món đó nấu cho con, sao nó lại ăn được?”

    Xe cấp cứu đến sau mười phút. Trên xe, Khánh Linh lạ/nh ng/ắt, thỉnh thoảng co rú/m vì đ/au. Tôi cởi áo khoác quấn thêm cho con. Trong đầu chỉ còn tiếng bà Xương hỏi đi hỏi lại: “Cháu ăn bao nhiêu nước canh? Món đó có đắng không?”

    Tôi cúi xuống. “Linh, con còn nhớ món đó có vị lạ không?”

    Con nhíu m/ày: “Hơi đắng… nhưng con nghĩ do thuốc bắc. Bà nội hay bảo gà ác hầm phải đắ/ng nhẹ mới bổ.”

    Tại bệnh viện, bác sĩ Trần Minh Quân yêu cầu xét nghiệm m/áu, si/êu â/m và xét nghi/ệm đ/ộc ch/ất. Khi tôi nói mình đang ma/ng th/ai gần ba tháng, ánh mắt ông thay đổi: “Phần thức ăn được chuẩn bị cho chị. Các dấu hiệu nghi ngờ có hoạt chất ng/oại si/nh ảnh hưởng đến đông m/áu và gây co th/ắt – đặc biệt ngu/y hiể/m với phụ nữ m/ang t/hai.”

    Tai tôi ù đi. Người đáng lẽ nằm cấp cứu không phải Khánh Linh. Là tôi. Là đ/ứa trẻ/ chưa thành hình trong bụn/g tôi.

    Điện thoại tôi rung liên tục. Quốc Khải không bắt máy. Gần năm giờ sáng anh mới xuất hiện, quần áo tối hôm trước, tóc rối, cổ áo nhăn. Trên người anh phảng phất mùi nước hoa phụ nữ rất lạ – hương ngọt mà suốt gần hai mươi năm chung sống tôi chưa từng thấy.

    Điều tra viên Nguyễn Đức Thành hỏi anh tối qua ở đâu. Quốc Khải nói gặp đối tác, uống hơi nhiều nên ngủ lại nhà bạn. Khi bác sĩ nhắc lại: “Hoạt chất chúng tôi nghi ngờ rất nguy hiểm với phụ nữ man/g th/ai”, chiếc cốc nhựa trên tay Quốc Khải rơi xuống nền.

    Tôi nhìn từng động tác của anh. Nếu thật sự không liên quan, tại sao anh lại phản ứng như vừa nghe thấy một điều đã biết trước?


    X/EM TI/ẾP PH/ẦN 2 BÊN DƯỚI

    👇👇👇

    Gần tám giờ sáng, cán bộ gọi điện: trong tủ của người giúp việc – chị Dung – có phát hiện vật đáng ngờ. Chị được mời đến, khóc nức nở khi nghe Khánh Linh cấp cứu. Quốc Khải chỉ thẳng mặt chị: “Công an tìm thấy đồ liên quan trong tủ của chị, chị còn giả vờ thương con gái tôi?”

    Vật được tìm thấy là một mẩu bao bì thuốc bị vò nát. Chị Dung khai rõ: sáu giờ hai mươi chị rời nhà, camera xác nhận. Nhưng dòng tiền một trăm sáu mươi triệu bất ngờ chuyển vào tài khoản con trai chị từ công ty An Phúc – do em họ Trịnh Bảo Châu đứng tên.

    Minh Anh, bạn thân của Linh, mang đến bức ảnh con bé chụp lúc 20:52: chiếc hộp thủy tinh có tờ giấy vàng ghi nét chữ của bà Xương: “Phần của Hà – không ai được ăn.”

    Tôi đang định nói gì thì bụng dưới thắt lại. Đầu ngón tay dính một vệt máu. Tôi được đưa sang khoa sản vì dấu hiệu động thai.

    Quốc Khải mang tập hồ sơ dày đến: “Em ký giúp anh mấy chỗ này. Anh cần vay tiền gấp để chuyển Linh lên tuyến trên.”

    Tôi cầm trang đầu. Giấy ủy quyền quản lý và định đoạt tài sản. Văn bản đồng ý dùng quyền sử dụng đất làm biện pháp bảo đảm.

    “Đây đâu phải giấy vay viện phí.”

    Anh cười gượng. “Thủ tục ngân hàng lúc nào chẳng dài.”

    Điện thoại tôi rung. Thanh Hạnh – kế toán trưởng – nói nhỏ: “Chị đừng ký. Bộ hồ sơ ấy đã được chuẩn bị từ năm ngày trước khi cháu Linh vào viện. Khoản vay không phải để chữa bệnh. Anh Khải đang muốn lấy quyền xử lý nhà đất của chị.”

    Lần đầu tiên sau gần hai mươi năm, tôi thấy người đàn ông ấy xa lạ hơn bất kỳ người dưng nào.

    Đại úy Thành đặt trước mặt tôi tấm ảnh từ camera: Quốc Khải bước vào sảnh khách sạn lúc hơn mười giờ tối, bên cạnh là Trịnh Bảo Châu – trưởng phòng kinh doanh đối tác, người từng đến nhà tôi ăn cơm, mua yến cho tôi khi biết tôi mang thai. Họ vào lúc 22:14 và rời đi lúc 3:47. Phòng đứng tên Quốc Khải.

    Buổi tối tôi nghe Bảo Châu nói điện thoại ở cuối hành lang: “Anh ấy đang rối lắm. Mắc phải giữ bà Xương im miệng. Nếu bà ấy nói sai một câu thì chẳng ai cứu được đâu.”

    Người ở đầu dây không phải Quốc Khải. Châu gọi người đó là bác. Trong nhà chồng tôi, người khiến cả Quốc Khải, bà Xương lẫn Bảo Châu đều phải dè chừng chỉ có một người – bà Mến, chị ruột của mẹ chồng.

    Gần nửa đêm tôi nghe tiếng bà Xương nức nở sau cánh cửa: “Chị Mến bảo chỉ cần nó mất cái thai thôi, sao giờ con Linh lại ra nông nỗi này?”

    Quốc Khải gắt: “Mẹ nói nhỏ thôi. Mẹ còn dán tên lên hộp rồi, tại sao lại để Linh ăn?”

    “Tối con bé về sớm, mẹ đang nghe điện thoại của bác, có biết nó xuống bếp đâu.”

    “Con nói với mẹ thứ đó chỉ làm thai không giữ được rồi đưa nó đi viện là xong.”

    “Con nói theo lời bác Mến. Giờ mẹ hỏi con thì con biết hỏi ai? Thế tại sao con bỏ nhà đi? Nếu con ở nhà thấy Linh ăn thì đã ngăn được.”

    “Con phải có mặt ở chỗ khác. Sau này người ta hỏi, ít nhất con còn chứng minh mình không ở nhà.”

    Tôi bật ghi âm. Tay run đến mức suýt làm máy rơi.

    Sáng hôm sau bà Xương đến cơ quan điều tra nhận toàn bộ trách nhiệm: tự ý bỏ thuốc vì không muốn tôi sinh thêm con ở tuổi ngoài bốn mươi. Không nhắc đến ai khác.

    Tôi gặp bà trong phòng làm việc có cán bộ chứng kiến: “Mẹ nhận vì hối hận hay vì muốn cứu anh Khải?”

    Bà nhắm mắt: “Con chưa là mẹ của con trai nên không hiểu.”

    Tôi đặt tay lên bụng: “Con đang làm mẹ của hai đứa trẻ. Yêu con không có nghĩa biến nó thành kẻ không biết chịu trách nhiệm.”

    Bà Mến xuất hiện đúng lúc ấy. Áo dài màu trầm, khăn lụa, nụ cười hiền: “Hà, bác vừa nghe chuyện. Tiền chữa cho Linh bác sẽ lo hết. Chuyện trong nhà người nhà mình tự giải quyết với nhau.”

    Nụ cười ấy không phải của người vừa nghe tin cháu họ suýt chết. Nó giống nụ cười của người đã chuẩn bị sẵn cách dọn dẹp hậu quả.

    Bà Mến thừa nhận Quốc Khải đang nợ bà mười ba tỷ tám trăm triệu. Hợp đồng vay có phụ lục: nếu không trả đúng hạn, anh phải hỗ trợ bên cho vay tiếp cận và xử lý tài sản tại khu đô thị – chính căn biệt thự đứng tên tôi.

    Thanh Hạnh giao hồ sơ: trong tám tháng, công ty chuyển sang An Phúc hơn ba tỷ hai trăm triệu. Biên bản họp có chữ ký giả của tôi. Bản ghi chú viết tay: “Hoàn thiện ủy quyền – định giá nhà – chuyển 12% sau giải ngân.”

    Hồ sơ siêu âm Bảo Châu dùng để thông báo mang thai bị chỉnh sửa. Phòng khám xác nhận mã hồ sơ thuộc về bệnh nhân khác. Đứa trẻ ấy chưa từng tồn tại.

    Bảo Châu thừa nhận: “Tôi muốn anh Khải ly hôn và thực hiện cam kết chuyển cổ phần. Bà Mến bảo chỉ cần chị Hà mất thai, tinh thần suy sụp thì anh Khải sẽ dễ lấy chữ ký hơn. Túi giấy bà Mến đưa, bảo là thuốc dành cho người có thai nhưng dùng sai thời điểm sẽ gây vấn đề.”

    Nhân viên vệ sinh bệnh viện trình báo: Bảo Châu đưa tiền nhờ đánh tráo mẫu vật. Hoàng giao nộp năm mươi triệu tiền trước và đoạn ghi âm.

    Tại căn biệt thự cũ, bà Mến, Quốc Khải, Bảo Châu, bà Xương tranh nhau. Tôi ngồi im nhìn họ tự nói ra phần lợi ích của mình. Đại úy Thành cùng các cán bộ bước vào đúng lúc họ không còn giữ được mặt nạ.

    Tám tháng sau, phiên tòa. Khánh Linh ngồi bên cạnh tôi, gầy đi nhiều, tóc cắt ngắn. Con nói: “Con muốn tự nghe họ nói.”

    Bà Mến vẫn giữ lưng thẳng. Khi chủ tọa hỏi có điều gì muốn nói với cháu Khánh Linh không, bà đáp: “Không.”

    Khánh Linh đứng lên. “Bà nội nói bà không muốn hại cháu vì bà không biết cháu sẽ ăn. Nếu người ăn là mẹ cháu thì bà không thấy có lỗi sao?”

    Bà Xương mở miệng nhưng không phát ra tiếng. Cuối cùng bà cúi gằm mặt, hai vai rung lên.

    Tôi đứng lên. “Người cha thật sự không đánh cược mạng sống của bất kỳ người nào trong nhà để cứu một công ty. Tình thương không chỉ là nước mắt khi hậu quả xảy ra. Nó là lựa chọn ngăn cái ác trước khi quá muộn.”

    Sau phiên tòa tôi không trở lại căn biệt thự. Hai mẹ con ở tạm gần bệnh viện. Tôi mua một căn nhà mái ngói nhỏ ven sông Đuống. Hai phòng ngủ, gian bếp sáng, khoảng sân đủ trồng giàn mướp và vài khóm hồng.

    Vài tháng sau tôi sinh một bé trai. Đặt tên Minh. Ngày bế em về, Khánh Linh ngồi cạnh nôi rất lâu: “Em có giống bố không mẹ?”

    Tôi đáp: “Em giống chính em. Sau này lớn lên em sẽ được tự chọn mình trở thành người thế nào.”

    Khánh Linh không trở lại lớp chuyên toán. Con học chương trình nhẹ hơn, kết hợp phục hồi và trị liệu. Những ngày đầu rất khó. Có hôm con đọc một trang sách ba lần vẫn không nhớ. Chỉ cần ai đó đặt hộp thức ăn có dán tên trong tủ lạnh, con lập tức tái mặt.

    Một buổi sáng tôi thấy con ngồi dưới nền bếp, lưng dựa vào tủ, cả người run. Tôi ngồi xuống. “Con nhìn mẹ này. Đây là nhà mới. Trong bếp chỉ có mẹ con và em Minh.”

    Khi bình tĩnh lại, Linh tự mở tủ lạnh lấy một quả trứng: “Mẹ dạy con luộc trứng được không?”

    Lần đầu con chỉ đứng nhìn. Lần thứ hai trứng vỡ cả vào bát lẫn mặt bàn. Lần thứ ba trứng cháy cạnh, mặn đến mức hai mẹ con vừa ăn vừa uống nước. Linh bật cười. Đó là tiếng cười tự nhiên đầu tiên sau nhiều tháng.

    Bác sĩ trị liệu giới thiệu con đến trung tâm nghệ thuật. Con đặc biệt thích những mảnh gỗ có vân tự nhiên. Bác Hoàn đưa con miếng gỗ mít nhỏ: “Cháu đừng nghĩ phải làm thành thứ gì. Cứ nhìn đường vân xem nó muốn trở thành gì.”

    Linh nắm rất lâu rồi nói: “Cháu thấy một cánh chim.”

    Hai năm sau, trung tâm tổ chức buổi trưng bày nhỏ. Ở giữa phòng là tác phẩm của Khánh Linh. Từ một khúc gỗ sẫm màu, con khắc hình chim phượng hoàng đang vươn lên. Phần gốc vẫn giữ những vết cháy đen, nhưng đôi cánh phía trên mở rộng, từng đường khắc hướng về vùng sáng. Tấm bảng nhỏ bên cạnh ghi hai chữ: Tái sinh.

    Tôi hỏi: “Tại sao con đặt tên như vậy?”

    Linh nhìn tác phẩm rồi nhìn em trai đang chạy quanh chân chị: “Vì có những thứ tưởng đã cháy hết rồi, nhưng từ tro tàn vẫn có thể bắt đầu lại.”

    Tôi quay đi lau nước mắt. Ngoài sân, nắng cuối thu trải trên mặt sông Đuống một dải vàng dài. Căn nhà mái ngói nhỏ không còn mùi canh gà, không còn những tập giấy giả, không còn tiếng bước chân của người từng muốn nhìn mẹ con tôi gục xuống. Chỉ còn tiếng cười của Minh và ánh mắt của Linh khi nhìn về phía trước.

  • Tưởng Cha Đã Mất Tích Suốt Tám Năm, Ngày Người Đàn Ông Trở Về, Cậu Bé Chỉ Khẽ Hỏi: “Chú Đến Gặp Ai Ạ?”

    Tưởng Cha Đã Mất Tích Suốt Tám Năm, Ngày Người Đàn Ông Trở Về, Cậu Bé Chỉ Khẽ Hỏi: “Chú Đến Gặp Ai Ạ?”

    CÂU CHUYỆN HƯ CÂU DO TRÍ TUỆ NHÂN TẠO AI VIẾT, KHÔNG PHẢI CHUYỆN NGOÀI ĐỜI THỰC, CHỈ MANG TÍNH CHẤT GIẢI TRÍ, CHIÊM NGHIỆM

    Tưởng Cha Đã Mất Tích Suốt Tám Năm, Ngày Người Đàn Ông Trở Về, Cậu Bé Chỉ Khẽ Hỏi: “Chú Đến Gặp Ai Ạ?”

    Tôi lặng lẽ dừng chân trước căn nhà cấp bốn nằm cuối con hẻm nhỏ ở thành phố Lào Cai. Tám năm xa cách khiến mọi thứ vừa quen vừa lạ. Chiếc cổng sắt cũ phủ một lớp gỉ màu nâu đỏ, cây xoài trước sân đã cao lớn hơn trước rất nhiều, còn giàn tigon vẫn nở hồng rực rỡ như những ngày xưa cũ.

    Bàn tay tôi khẽ đặt lên cánh cổng, run đến mức không đủ sức đẩy vào.

    Đúng lúc ấy, một người phụ nữ từ trong sân bước ra. Chiếc rổ quần áo trên tay cô bất ngờ rơi xuống nền gạch. Cô chết lặng nhìn tôi, đôi mắt mở to đầy kinh ngạc.

    Đó là Mai Lan.

    Người vợ mà suốt tám năm qua tôi luôn mong một ngày được gặp lại.

    Bên cạnh cô là một cậu bé chừng tám tuổi, khuôn mặt sáng sủa, đôi mắt rất giống tôi. Cậu bé ngẩng lên nhìn người đàn ông xa lạ đang đứng ngoài cổng rồi lễ phép hỏi:

    – Chú tìm ai vậy?

    Chỉ một câu nói ngây thơ ấy thôi cũng đủ khiến trái tim tôi như bị bóp nghẹt.

    Tôi mở miệng định gọi tên con nhưng cổ họng nghẹn cứng. Hai hàng nước mắt lăn dài trên khuôn mặt đầy những vết sẹo do năm tháng để lại.

    Tám năm trước, tôi là một trung úy thuộc lực lượng cảnh sát cơ động làm nhiệm vụ ở khu vực biên giới phía Bắc.

    Hôm đó tôi vừa được nghỉ phép ngắn ngày để về thăm vợ và đứa con trai mới hơn ba tháng tuổi. Thằng bé sốt vì mọc răng nên quấy khóc suốt đêm. Mai Lan ôm con thức trắng, còn tôi chỉ mong hoàn thành chuyến công tác cuối cùng để được ở bên gia đình lâu hơn.

    Thế nhưng gần nửa đêm, điện thoại đơn vị đổ chuông.

    Một đường dây vận chuyển ma túy xuyên biên giới bất ngờ thay đổi kế hoạch. Chúng lợi dụng mưa lớn và sương mù để đưa hàng vượt rừng.

    Không còn cách nào khác, tôi lập tức lên đường.

    Trước khi đi, tôi cúi xuống hôn lên trán con rồi cười với vợ:

    – Xong việc anh sẽ về ngay, nhớ chờ anh nhé.

    Mai Lan chỉ khẽ gật đầu nhưng ánh mắt cô đầy lo lắng.

    Không ai ngờ đó lại là lần cuối cùng cô nhìn thấy tôi trong suốt tám năm.

    Cuộc truy bắt diễn ra vô cùng quyết liệt.

    Khi khống chế tên cầm đầu, cả khu vực bất ngờ xảy ra sạt lở. Đất đá cùng dòng nước lũ cuốn cả tôi và đối tượng lao xuống khe sâu.

    Đồng đội tìm kiếm suốt nhiều ngày nhưng không phát hiện tung tích.

    Sau khi mọi hy vọng đều khép lại, đơn vị buộc phải xác nhận tôi đã hy sinh trong khi làm nhiệm vụ.

    Mai Lan trở thành góa phụ khi tuổi đời còn rất trẻ.

    Con trai tôi lớn lên chỉ biết cha qua vài tấm ảnh cũ.

    Nhưng thực tế tôi vẫn còn sống.

    Dòng nước hung dữ cuốn tôi sang bên kia biên giới.

    Một gia đình người dân tộc sống trong vùng núi hẻo lánh đã cứu tôi khỏi bãi đá ven sông.

    Tôi bị chấn thương nặng ở đầu, mất sạch ký ức.

    Tôi không biết mình là ai.

    Không nhớ quê quán.

    Không nhớ mình từng có một mái ấm.

    Người trong bản thương tình nên đặt cho tôi cái tên mới là Sình.

    Suốt tám năm ấy, tôi sống như một người hoàn toàn khác.

    Ban ngày theo bà con lên nương trồng ngô, đốn củi, gùi hàng thuê.

    Ban đêm, những cơn đau đầu dữ dội liên tục hành hạ.

    Đôi lúc tôi mơ thấy tiếng trẻ con khóc.

    Có khi lại thấy bóng dáng một người phụ nữ đang đứng dưới cơn mưa.

    Mỗi lần tỉnh dậy, tim tôi đều đau nhói nhưng chẳng hiểu vì sao.

    Ký ức giống như những mảnh gương vỡ, vừa chạm tới đã tan biến.

    Mãi đến mùa đông của năm thứ tám, một đoàn y bác sĩ quân đội sang hỗ trợ khám chữa bệnh cho người dân vùng biên.

    Ngay khi nhìn thấy bộ quân phục màu xanh quen thuộc, đầu óc tôi như có tiếng nổ lớn.

    Hàng loạt hình ảnh ùa về.

    Tiếng còi tập hợp.

    Tiếng súng nổ trong đêm.

    Những lần hành quân xuyên rừng.

    Rồi khuôn mặt hiền hậu của Mai Lan.

    Tiếng con trai oe oe lúc mới sinh.

    Và lời hứa trước lúc rời nhà:

    – Anh đi xong sẽ về ngay.

    Tất cả đều trở lại.

    Tôi nhớ tên mình là Đức Thành.

    Tôi có một người vợ đang chờ.

    Có một đứa con trai chưa từng được gọi mình là ba.

    Tôi quỳ sụp xuống nền đất.

    Khóc đến khản cả giọng.

    Gia đình đã cưu mang tôi suốt tám năm cũng rưng rưng nước mắt.

    Họ gom góp tiền bạc, bán vài con dê, chuẩn bị lương thực và tiễn tôi lên đường trở về quê hương.

    Quãng đường hồi hương đầy gian truân.

    Không giấy tờ tùy thân.

    Không tiền bạc.

    Có những ngày tôi phải xin đi nhờ xe hàng.

    Có lúc phụ khuân vác để đổi lấy bữa cơm.

    Nhiều đoạn đường phải cuốc bộ hàng chục cây số.

    Đôi bàn chân nứt toác, rớm máu.

    Nhưng chỉ cần nghĩ đến khoảnh khắc được gặp lại vợ con, tôi lại có thêm sức lực để bước tiếp.

    Giờ đây tôi đã đứng trước ngôi nhà năm xưa.

    Thế nhưng đứa con trai của mình lại nhìn tôi như một người hoàn toàn xa lạ.

    Trong ký ức của thằng bé, người cha đã hy sinh là một người hùng trong bức ảnh đặt trên bàn thờ, luôn mặc quân phục chỉnh tề và nở nụ cười hiền hậu.

    Còn người đàn ông đang đứng trước mặt chỉ là một kẻ gầy gò, nước da sạm nắng, mái tóc lấm tấm bạc cùng những vết sẹo hằn sâu trên gương mặt.

    Mai Lan bước chậm đến gần, hai tay run rẩy.

    Cô nhìn rất lâu rồi nghẹn ngào gọi:

    – …Anh Thành… có phải thật sự là anh không?

    Tôi khẽ gật đầu.

    Không cần thêm bất cứ lời giải thích nào.

    Mai Lan òa khóc, lao tới ôm chầm lấy tôi. Tám năm chờ đợi, tám năm chịu đựng những lời thương hại, tám năm một mình nuôi con cuối cùng cũng được giải tỏa trong vòng tay ấy.

    Cậu bé vẫn đứng sững, chưa hiểu chuyện gì đang diễn ra.

    Mai Lan quay sang con, nước mắt vẫn không ngừng rơi.

    – Con à… đây là ba của con. Ba đã trở về rồi.

    Cậu bé chớp chớp mắt, nhìn bức ảnh trên bàn thờ rồi lại nhìn tôi. Em chậm rãi tiến lại, bàn tay nhỏ bé chạm vào khuôn mặt đầy sẹo của tôi như để xác nhận đây không phải giấc mơ.

    Khẽ gọi bằng giọng run run:

    – Ba… thật sự là ba hả?

    Tôi ôm con vào lòng thật chặt.

    Lần đầu tiên sau tám năm, tôi được nghe tiếng con gọi mình là cha.

    Khoảnh khắc ấy, mọi đau đớn, mọi mất mát và những tháng năm lưu lạc dường như đều trở nên xứng đáng.

    Ít lâu sau, cơ quan chức năng xác minh đầy đủ danh tính của tôi. Quyết định hủy giấy báo tử được ban hành, đồng thời đơn vị tổ chức một buổi gặp mặt đặc biệt để chào đón người chiến sĩ trở về sau hành trình tưởng chừng không có hồi kết.

    Dân trong khu phố kéo đến rất đông. Ai cũng xúc động khi chứng kiến người lính năm xưa vẫn còn sống. Những đồng đội cũ ôm lấy tôi trong nước mắt, còn Mai Lan và con trai luôn đứng cạnh, nắm chặt tay tôi như sợ chỉ cần buông ra, tôi sẽ lại biến mất thêm một lần nữa.

    Từ đó, mỗi chiều tan học, cậu bé đều chạy thật nhanh về nhà để khoe với bạn bè rằng mình cũng có ba đưa đón như bao đứa trẻ khác. Còn tôi hiểu rằng, phần đời còn lại không chỉ là để bù đắp cho vợ con, mà còn để trân trọng từng ngày bình yên mà số phận đã may mắn trả lại sau tám năm dài tưởng như vĩnh viễn chia ly.

  • Bố dượng vừa qua đời, anh trai kế liền đòi nợ 350 triệu, nhận tin nhắn của anh tôi bật khóc

    Bố dượng vừa qua đời, anh trai kế liền đòi nợ 350 triệu, nhận tin nhắn của anh tôi bật khóc

    10 năm trôi qua, anh trai kế chưa bao giờ ép tôi trả lại số tiền này. Vậy mà bố dượng vừa qua đời, anh đã đòi nợ ngay.

    Khoảng 20 năm trước, mẹ đưa tôi đi tái hôn. Bố dượng cũng có một người con trai, hơn tôi 5 tuổi, và giữa mẹ tôi và bố dượng không có con chung. Họ đối xử với hai anh em tôi đều như nhau, không thiên vị ai cả.

    Có một điều khiến tôi ấn tượng sâu sắc. Khi tôi tốt nghiệp cấp 3, bố dượng đa mua cho tôi một chiếc máy tính và đặt trong phòng tôi. Điều này vừa là sự động viên vừa là sự thiên vị bố dượng dành cho tôi.

    Anh trai kế rất đau lòng khi biết chuyện này nhưng không dám nói gì. Để bù đắp, mẹ tôi đã mua cho anh trai kế một chiếc xe máy để anh đi làm sẽ tiện lợi hơn.

    Sự thiên vị chồng chéo này thực chất là suy nghĩ nhỏ bé của mẹ và bố dượng. Họ luôn cố gắng hết sức để chúng tôi gần gũi hơn trở thành một gia đình hoàn chỉnh.

    Sau khi tốt nghiệp đại học, tôi ở lại thành phố làm việc, đi làm thuê nên lương ba cọc ba đồng. Người anh kế cũng đi làm ăn xa. Tuy anh không học đại học nhưng có đầu óc nhanh nhạy, nên sau vài năm đi làm, anh đã tự mình kinh doanh và thu nhập rất tốt.

    Chúng tôi sống cuộc sống của riêng mình, ngoài việc gặp nhau trong những ngày nghỉ lễ, thời gian còn lại chúng tôi rất ít liên lạc với nhau. Còn mẹ và bố dượng, họ vẫn sống với nhau ở quê.

    Bố dượng vừa qua đời, anh trai kế liền đòi nợ 350 triệu, nhận tin nhắn của anh tôi bật khóc - 1
    Năm xưa, mẹ đã đưa tôi đi tái hôn. (Ảnh minh họa).

    Bố dượng của tôi qua đời cách đây không lâu vì tuổi già sức yếu. Sau đám tang của bố dượng, chúng tôi ngồi cùng nhau trong phòng khách, im lặng, một lúc lâu không biết phải nói gì. Cuối cùng, mẹ tôi đã phá vỡ bầu không khí yên ắng này:

    – Sau này mẹ sẽ sống cùng Hưng (tên tôi). Mẹ năm nay cũng gần 70 tuổi rồi, sống một mình ở đây không thuận tiện, mẹ cũng không muốn làm phiền tới con quá nhiều.

    Mẹ tôi nói với anh trai kế. Anh do dự rất lâu, không thể chấp nhận được sự ra đi của bố và dường như cũng không muốn mẹ tôi rời đi, bởi vì anh ấy nói:

    – Mẹ ở đây thì có sao đâu, con sẽ thuê giúp việc chăm sóc mẹ được mà. Con cũng sẽ thường xuyên về thăm mẹ hơn. Nếu mẹ rời đi, sẽ không ai ở đây nữa.

    Nhưng sau khi bàn bạc, mẹ vẫn quyết định cùng tôi rời đi.

    Điều đáng ngạc nhiên là không lâu sau đám tang của bố dượng, anh trai kế lại nhắn tin đòi lại khoản 350 triệu mà tôi đã vay trước đó. Khi tôi kết hôn và mua nhà, mẹ tôi đã vay tiền của bố dượng vì tôi thiếu tiền.

    Ban đầu bố dượng cho luôn tôi 100 triệu rồi, sau đó bố còn vay thêm 350 triệu từ anh trai kế mang cho tôi. Lúc đó, công việc kinh doanh của anh trai kế đang thuận lợi, kiếm được khá nhiều tiền nên anh bảo tôi không cần phải trả lại. Nhưng tôi vẫn coi số tiền đó như một khoản vay, hứa với anh rằng sau 3 – 5 năm sẽ trả lại hoặc sẽ xoay sở trả lại bất cứ khi nào anh cần.

    10 năm trôi qua, anh trai kế chưa bao giờ ép tôi trả lại số tiền này. Còn tôi, nhiều lần chuyển cho anh 40 – 50 triệu để trừ nợ dần, nhưng lần nào anh cũng chuyển lại với lý do chúng tôi đều là một gia đình.

    Nhưng bây giờ tang lễ của bố dượng vừa kết thúc, tôi vừa đưa mẹ về nhà mình ở thì không ngờ vào lúc này, anh trai kế lại đòi tiền.

    Điều đầu tiên tôi nghĩ đến là anh kế sợ sau này tôi không về quê nữa, tiền cũng không trả nên muốn đòi lại càng sớm càng tốt. Nhưng dù thế nào đi chăng nữa, tôi cũng đồng ý vì tôi nợ anh mà. Tuy nhiên, tôi không nói chuyện này với mẹ vì sợ mẹ thất vọng.

    Sau đó, tôi vét tiền tiết kiệm và vay mượn bạn bè thêm một khoản để đưa cho anh trai kế.

    Bố dượng vừa qua đời, anh trai kế liền đòi nợ 350 triệu, nhận tin nhắn của anh tôi bật khóc - 2
    Tôi đã vét tiền tiết kiệm, vay thêm bạn bè để chuyển khoản, trả nợ cho anh trai kế. (Ảnh minh họa).

    Sau khi chuyển tiền xong, tôi liền gọi cho anh kế kiểm tra tài khoản xem đã nhận được chưa. Anh cũng cảm ơn tôi và bảo tôi thường xuyên đưa mẹ về quê. Tôi đồng ý lấy lệ.

    Sau khi cúp điện thoại, tôi thở dài một hơi. Cuối cùng thì khoản vay cũng đã được giải quyết. Tuy nhiên, chuyện này vẫn chưa kết thúc. Ngay sau khi chuyển khoản xong, anh kế đã gửi cho tôi một tin nhắn:

    – Em ơi, anh xin lỗi. Anh không có ý ép em trả lại tiền. Gần đây công ty anh có nhiều chuyện xảy ra quá, anh cần một ít tiền để xoay sở.

    Tôi chưa kịp trả lời thì anh đã gửi ngay tin nhắn thứ hai:

    – Nhà của bố mẹ mãi là nhà của bố mẹ. Mặc dù trên giấy tờ nhà không ghi tên mẹ nhưng mẹ sở hữu một nửa căn nhà này. Anh sẽ không lấy cho mình. Em cũng nhớ nói với mẹ rằng đây vẫn mãi là nhà của chúng ta nhé.

    Tôi bật khóc ngay tại chỗ, nước mắt giàn giụa. Anh trai kế chưa bao giờ vay tiền người nhà, dù khó khăn đến đâu anh luôn âm thầm chịu đựng và tìm cách khắc phục. Có lẽ bây giờ thực sự quá khó khăn nên anh mới phải mở miệng hỏi tiền tôi.

    Về phần căn nhà, vì nó ở vị trí đắc địa nên dù bán hay cho thuê cũng sẽ có một khoản đáng kể. Ngôi nhà này là của bố dượng, nên tôi và mẹ chưa bao giờ mơ tưởng muốn một phần từ nó.

    Mặc dù bố dượng không coi chúng tôi như người ngoài và cũng chưa bao giờ tính toán với chúng tôi, nhưng lần này anh trai kế đã chủ động nói ra chuyện này.

    Sau này tôi hỏi anh trai kế đang gặp khó khăn gì và có cần tôi giúp đỡ không, anh vẫn từ chối, chỉ yêu cầu tôi chăm sóc mẹ thật tốt và quay về nhà thường xuyên để mọi người gặp gỡ nhau. Tôi thực sự cảm kích anh, nhưng không biết làm thế nào để giúp anh, chỉ có thể luôn trong tinh thần sẵn sàng giúp anh khi anh cần giúp đỡ.

  • Trong một phút bốc đồng, tôi — một nữ nhân viên hành chính nhà nước — đã gật đầu lấy đại người đàn ông chuyên thông cống, hút bể phốt ở khu phố bên cạnh. –

    Trong một phút bốc đồng, tôi — một nữ nhân viên hành chính nhà nước — đã gật đầu lấy đại người đàn ông chuyên thông cống, hút bể phốt ở khu phố bên cạnh. –

    Vì đã bước sang tuổi 40 mà vẫn chưa từng có một mối tình đúng nghĩa, tôi bị bố mẹ thúc ép chuyện chồng con đến mức phát mệt. Trong một phút bốc đồng, tôi — một nữ nhân viên hành chính nhà nước — đã gật đầu lấy đại người đàn ông chuyên thông cống, hút bể phốt ở khu phố bên cạnh.

    Tôi tên là Ngọc, năm nay vừa tròn bốn mươi tuổi, làm việc tại một cơ quan hành chính ở thành phố. Suốt từng ấy năm, tôi chưa từng có người yêu.

    Nếu nghe đến đây, có lẽ nhiều người sẽ nghĩ tôi là kiểu phụ nữ quá kén chọn, tính khí khó chịu hoặc ngoại hình không có gì nổi bật. Nhưng thật ra, tôi cũng chẳng đến mức xấu xí. Tôi chỉ thuộc kiểu nhìn vào không khiến người ta phải ngoái lại lần hai. Công việc của tôi lại khá đều đều, ngày nào cũng sáng đi làm, chiều về nhà, tối ăn cơm rồi xem điện thoại. Cuộc sống cứ lặp đi lặp lại như một chiếc đồng hồ không bao giờ biết mệt.

    Tuổi trẻ của tôi trôi qua lúc nào chẳng hay.

    Đến năm ba mươi lăm tuổi, mỗi lần về quê ăn Tết với gia đình, tôi bắt đầu có cảm giác mình đang bước vào một cuộc họp gia đình mở rộng về chủ đề: “Bao giờ Ngọc lấy chồng?”.

    Mẹ tôi hỏi.

    Các dì hỏi.

    Hàng xóm hỏi.

    Đến cả cô bán bánh cuốn đầu ngõ cũng từng vừa gói bánh vừa thở dài:

    — Con gái gì mà xinh xắn thế này, sao mãi chưa lấy chồng hả cháu?

    Tôi chỉ biết cười trừ.

    Nhưng mẹ tôi thì càng ngày càng sốt ruột.

    Ban đầu bà chỉ than:

    — Con gái người ta bằng tuổi con đã có con học cấp ba rồi.

    Sau đó chuyển sang trách móc:

    — Con cứ sống như thế này thì đến bao giờ mới có người chăm sóc?

    Rồi cuối cùng, bà bắt đầu đe dọa:

    — Nếu năm nay con vẫn không chịu lấy chồng, mẹ sẽ đăng ảnh con lên hội nhóm tìm người yêu trên mạng. Mẹ nói là làm đấy!

    Tôi biết mẹ mình không nói đùa.

    Bà là kiểu người có thể vừa ăn cơm vừa lập tài khoản Facebook mới, rồi đăng hẳn một bài dài mấy trăm chữ với tiêu đề: “Tìm chồng cho con gái 40 tuổi, công việc ổn định, tính tình hiền lành”.

    Chỉ nghĩ đến cảnh đó thôi, tôi đã thấy mất ngủ.

    Rồi một buổi chiều cuối tháng mười, chuyện kỳ lạ nhất đời tôi xảy ra.

    Hôm ấy tôi tan làm muộn. Trời vừa mưa xong, con đường trước khu tập thể cũ ngập lênh láng. Tôi đang loay hoay dắt xe qua một đoạn nước thì nghe tiếng ai đó gọi phía sau:

    — Chị Ngọc, tránh sang bên này đi, chỗ kia sâu lắm!

    Tôi quay lại.

    Đó là Tuấn.

    Anh sống ở cuối con phố, làm nghề thông tắc cống và hút bể phốt. Người đàn ông ngoài ba mươi lăm tuổi, dáng cao, nước da sạm nắng, đôi bàn tay thô ráp vì quanh năm làm việc nặng. Quần áo của anh thường dính bụi, đôi khi còn phảng phất mùi dầu máy và đặc trưng của công việc mà chẳng mấy ai muốn nhắc đến.

    Tôi và anh vốn chỉ quen biết sơ sơ.

    Thỉnh thoảng gặp nhau ngoài đường, chúng tôi gật đầu chào nhau.

    Có lần xe tôi bị chết máy giữa đường, anh còn giúp đẩy vào lề rồi gọi người sửa hộ.

    Tôi chưa bao giờ nghĩ giữa chúng tôi sẽ có chuyện gì đặc biệt.

    Nhưng hôm đó, chẳng hiểu vì sao, sau khi anh hỏi:

    — Chị Ngọc vẫn chưa lấy chồng à?

    Tôi bỗng buột miệng:

    — Chưa.

    Anh gật gù:

    — Vậy chắc chị kén lắm?

    Tôi nhìn anh vài giây rồi nói như thể đang quyết định mua một bó rau:

    — Hay là… chúng ta cưới nhau đi?

    Tuấn đứng im.

    Một giây.

    Hai giây.

    Ba giây.

    Tôi bắt đầu thấy mình điên thật rồi.

    Nhưng anh bất ngờ bật cười:

    — Được.

    Tôi ngẩn ra:

    — Anh không cần suy nghĩ à?

    — Chị đã hỏi thì tôi trả lời thôi.

    — Anh không sợ tôi là người khó tính sao?

    Tuấn nhún vai:

    — Tôi làm nghề này còn không sợ những thứ khó chịu hơn nhiều. Một người phụ nữ khó tính chắc vẫn dễ đối phó hơn.

    Tôi không biết nên cười hay nên giận.

    Vậy là chúng tôi cưới nhau.

    Không có màn cầu hôn lãng mạn. Không có những tháng ngày yêu đương ngọt ngào. Cũng chẳng có chuyến du lịch nào trước đám cưới.

    Mẹ tôi nghe tin thì vui đến mức đi khoe với cả xóm.

    Bố tôi chỉ ngồi uống trà, gật gù:

    — Lấy chồng rồi thì phải biết vun vén. Đừng vì người ta làm nghề tay chân mà coi thường.

    Tôi nghe vậy chỉ cười.

    Trong lòng tôi lúc ấy thật ra chẳng có nhiều cảm xúc.

    Tôi chỉ nghĩ đơn giản: “Thôi thì lấy chồng để bố mẹ yên lòng. Nếu sống được với nhau thì sống. Không hợp thì tính tiếp.”

    Đám cưới được tổ chức khá đơn giản.

    Váy cưới tôi thuê ở một cửa hàng gần nhà. Tiệc cưới đặt tại một nhà hàng bình dân. Khách mời chủ yếu là họ hàng, đồng nghiệp và vài người bạn của Tuấn.

    Tôi không kỳ vọng gì nhiều.

    Nhà trai đến vào buổi sáng.

    Mẹ Tuấn là một người phụ nữ khoảng ngoài sáu mươi, mặc áo dài màu xanh đậm, tóc búi gọn sau gáy. Bà có khuôn mặt phúc hậu, nói chuyện nhỏ nhẹ, nhưng ánh mắt lại khiến tôi có cảm giác bà là người rất tinh ý.

    Từ lúc gặp nhau, bà chỉ mỉm cười nhìn tôi, không hề hỏi những câu khó chịu như “lương tháng bao nhiêu”, “có biết nấu ăn không” hay “sau này định sinh mấy đứa con”.

    Điều đó khiến tôi hơi bất ngờ.

    Hôn lễ diễn ra nhanh chóng.

    Trao nhẫn.

    Cắt bánh.

    Uống rượu.

    Chụp ảnh.

    Tôi làm mọi thứ theo hướng dẫn của người dẫn chương trình, giống như một người đang hoàn thành thủ tục cần thiết trong cuộc đời.

    Tôi cứ nghĩ ngày cưới của mình sẽ trôi qua bình thường như vậy.

    Cho đến lúc mẹ chồng đưa quà cưới.

    Mọi người xung quanh bắt đầu xì xào.

    Tôi đoán bà sẽ tặng một chiếc vòng vàng hoặc một phong bì tiền.

    Nhưng không.

    Mẹ chồng bước đến trước mặt tôi, lấy từ trong chiếc túi vải màu nâu ra một chiếc hộp gỗ nhỏ.

    Bà đưa cho tôi rồi nói:

    — Đây là món quà mẹ muốn trao cho con.

    Tôi mở hộp.

    Bên trong không có vàng bạc.

    Chỉ có một chùm chìa khóa cũ và một tập giấy được buộc cẩn thận bằng sợi dây đỏ.

    Tôi ngẩng đầu lên:

    — Mẹ… đây là?

    Mẹ chồng nhìn tôi, chậm rãi nói:

    — Là giấy tờ căn nhà ở khu phố cũ.

    Tôi sững người.

    Bà nói tiếp:

    — Căn nhà đó là tài sản duy nhất bố mẹ để lại cho Tuấn. Nhưng từ hôm nay, mẹ muốn giao nó cho con đứng tên.

    Cả bàn tiệc im bặt.

    Tôi vội lắc đầu:

    — Không, mẹ ạ. Con không thể nhận món quà lớn như vậy.

    Mẹ chồng mỉm cười:

    — Con đừng nghĩ đây là quà cưới.

    Tôi càng ngơ ngác hơn.

    Bà quay sang nhìn con trai mình:

    — Tuấn, con nói với vợ con đi.

    Tuấn im lặng rất lâu.

    Sau đó anh mới nói:

    — Mẹ muốn thử lòng em.

    Tôi nhìn anh:

    — Thử lòng?

    Mẹ chồng thở dài:

    — Mẹ biết con trai mẹ làm nghề gì. Mẹ cũng biết nhiều người khi nghe đến nghề của nó sẽ lập tức coi thường. Có người từng đến tìm hiểu, nhưng sau khi biết Tuấn làm công việc này thì quay lưng. Có người còn nói thẳng rằng họ không thể sống chung với một người lúc nào cũng dính mùi dầu mỡ và bùn đất.

    Bà nhìn tôi thật lâu:

    — Nhưng từ ngày con nói đồng ý cưới nó, mẹ đã để ý một chuyện. Con chưa từng hỏi nó kiếm được bao nhiêu tiền. Con cũng không hỏi nhà nó có tài sản gì. Con chỉ hỏi: “Anh có thực sự muốn cưới tôi không?”.

    Tôi im lặng.

    Đúng là tôi đã từng hỏi câu đó.

    Và Tuấn khi ấy trả lời:

    — Nếu chị muốn, tôi sẽ cố gắng sống tử tế với chị.

    Mẹ chồng nói tiếp:

    — Căn nhà này không phải để mua lòng con. Mẹ muốn con biết rằng, dù Tuấn làm nghề gì, nó vẫn là con trai mẹ. Và mẹ không muốn con phải chịu thiệt thòi khi lấy nó.

    Tôi bỗng thấy sống mũi cay cay.

    Nhưng câu chuyện chưa dừng lại ở đó.

    Tối hôm ấy, sau khi khách khứa ra về, tôi ngồi trong căn phòng tân hôn mà vẫn cảm thấy mọi chuyện giống như một giấc mơ.

    Tuấn bước vào, trên tay cầm hai cốc nước.

    Tôi nhìn anh:

    — Anh biết chuyện căn nhà từ trước đúng không?

    — Biết.

    — Vậy tại sao anh không nói?

    Tuấn đặt cốc nước xuống bàn:

    — Vì nếu tôi nói, có thể chị sẽ nghĩ tôi cưới chị vì muốn tìm một người quản lý tài sản. Hoặc chị sẽ nghĩ gia đình tôi giàu có.

    Tôi bật cười:

    — Anh làm nghề thông cống, ăn mặc như công nhân, sống trong căn nhà cũ, ai mà nghĩ nhà anh giàu được?

    Tuấn cũng cười.

    Một lúc sau, anh nghiêm túc nói:

    — Ngọc này, tôi biết cuộc hôn nhân của chúng ta bắt đầu rất kỳ lạ. Chị lấy tôi vì muốn bố mẹ yên lòng. Còn tôi đồng ý vì… tôi đã để ý chị từ lâu.

    Tôi ngẩng lên.

    — Từ bao giờ?

    — Từ lần chị đứng giữa trời mưa, cầm ô che cho một con mèo bị mắc dưới gầm xe.

    Tôi ngẩn người.

    Tôi hoàn toàn không nhớ.

    Tuấn cười:

    — Chị có thể không nhớ, nhưng tôi nhớ. Tôi nghĩ một người có thể đối xử tử tế với một con vật không ai quan tâm thì chắc cũng không phải người xấu.

    Tôi cúi đầu, không biết phải nói gì.

    Tôi từng nghĩ mình cưới Tuấn vì quá mệt mỏi với những lời thúc giục của bố mẹ.

    Nhưng đêm đó, lần đầu tiên tôi nhìn kỹ người đàn ông đang ngồi đối diện mình.

    Đôi bàn tay anh đầy vết chai.

    Móng tay còn dính những vết dầu khó rửa sạch.

    Áo sơ mi anh mặc trong đám cưới đã được là phẳng cẩn thận, nhưng cổ tay áo vẫn còn vài vết sờn.

    Một người đàn ông bình thường.

    Không hào nhoáng.

    Không lãng mạn.

    Nhưng khi tôi ốm, anh là người đầu tiên dậy nấu cháo.

    Khi tôi bị đau lưng, anh âm thầm mua thuốc rồi đặt bên cạnh giường.

    Mỗi sáng trước khi đi làm, anh đều nhắn:

    “Em ăn sáng chưa?”

    Ban đầu tôi thấy rất phiền.

    Sau đó, tôi bắt đầu chờ tin nhắn ấy.

    Ba tháng sau đám cưới, tôi bị sốt nặng. Tuấn đang ở một công trình cách nhà hơn hai mươi cây số. Vừa nghe mẹ tôi gọi báo, anh lập tức bỏ việc, chạy xe về đưa tôi đi bệnh viện.

    Đêm ấy, anh ngồi bên cạnh giường bệnh suốt đêm.

    Tôi tỉnh dậy lúc gần sáng, thấy anh gục đầu bên mép giường.

    Tôi nhìn người đàn ông ấy rất lâu.

    Rồi lần đầu tiên trong đời, tôi chủ động nắm lấy tay một người đàn ông.

    Tuấn giật mình tỉnh dậy:

    — Em cần gì à?

    Tôi lắc đầu.

    — Không. Chỉ là… muốn nắm tay anh thôi.

    Anh nhìn tôi vài giây rồi cười.

    Nụ cười ấy khiến tôi bỗng thấy lòng mình bình yên lạ thường.

    Một năm sau, tôi có thai.

    Mẹ tôi vui đến mức gọi điện báo tin cho tất cả họ hàng.

    Bố tôi thì cười suốt mấy ngày.

    Còn Tuấn, người đàn ông từng nói “có con hay không cũng được”, lại lén lút mua từng món đồ nhỏ cho em bé.

    Có hôm tôi phát hiện anh đứng trước cửa hàng bán đồ trẻ em hơn nửa tiếng chỉ để chọn một đôi tất sơ sinh.

    Tôi hỏi:

    — Anh mua gì mà lâu thế?

    Anh gãi đầu:

    — Anh không biết trẻ con đi tất cỡ nào.

    Tôi bật cười.

    Lúc đó, tôi mới nhận ra, cuộc hôn nhân của mình có lẽ không bắt đầu bằng tình yêu.

    Nhưng tình yêu hoàn toàn có thể xuất hiện sau khi hai người quyết định sống tử tế với nhau.

    Nhiều năm sau, mỗi khi ai đó hỏi tôi:

    — Chị lấy chồng kiểu gì mà nhanh thế?

    Tôi thường cười:

    — Tôi lấy đại thôi.

    Nhưng đó chỉ là câu nói đùa.

    Bởi tôi hiểu, có những người ta gặp trong những hoàn cảnh chẳng hề lãng mạn. Không hoa hồng, không lời tỏ tình, không những buổi hẹn hò ngọt ngào.

    Thế nhưng, người ấy lại ở bên ta trong những ngày tồi tệ nhất.

    Không nói những lời quá hay.

    Chỉ lặng lẽ làm những điều nhỏ bé.

    Đến một ngày, ta chợt nhận ra…

    Có lẽ mình đã không lấy nhầm người.

    Có lẽ, ở tuổi bốn mươi, tôi mới thật sự gặp được mối tình đầu của đời mình.

    Và điều bất ngờ nhất là…

    Người đàn ông ấy cũng chính là người chồng mà tôi từng “nhắm mắt lấy đại” trong một buổi chiều mưa năm nào.

    Post Views: 34

  • Việt Nam có loại quả khô “vàng mười”, ngâm với nước giúp hạ mỡ máu, ngừa ung thư

    Việt Nam có loại quả khô “vàng mười”, ngâm với nước giúp hạ mỡ máu, ngừa ung thư

     

    Từ xa xưa, táo gai ᵭã ᵭược Đȏng y sử dụng như một vị thuṓc quý hỗ trợ ᵭiḕu trị nhiḕu bệnh lý. Ngày nay, khoa học hiện ᵭại cũng ᵭã chứng minh tác dụng của táo gai trong việc bảo vệ tim mạch, ổn ᵭịnh huyḗt áp, giảm mỡ m:áu, chṓng oxy hóa và thậm chí là ngăn ngừa u:ng th:ư.

    Táo gai, hay còn gọi là sơn trà, bắc sơn trà, dã sơn trà, thuộc họ Hoa hồng (Rosaceae). Cây táo gai có nguồn gốc từ các nước châu Âu, Bắc Phi và Tây Á, sau đó được du nhập và trồng phổ biến ở nhiều nơi trên thế giới, trong đó có Việt Nam.

    Ở Việt Nam, táo gai thường được trồng ở các tỉnh miền núi phía Bắc như Lào Cai, Yên Bái, Hà Giang… Quả táo gai có hình cầu, khi chín có màu đỏ tươi hoặc vàng cam, vị chua ngọt, hơi chát. Dưới đây là những lợi ích sức khỏe không phải ai cũng biết của loại quả “nhỏ nhưng có võ” này.

    Hỗ trợ sức khỏe tim mạch

    Với những ai đang gặp vấn đề về huyết áp cao, táo gai thực sự là một “vị cứu tinh”. Nhờ khả năng giãn nở mạch máu và điều hòa nhịp tim, táo gai giúp hạ huyết áp hiệu quả, giảm nguy cơ đột quỵ và đau tim. Các chất chống oxy hóa trong táo gai giúp giảm cholesterol xấu (LDL) và tăng cholesterol tốt (HDL), ngăn ngừa xơ vữa động mạch. Táo gai giúp tăng cường sức co bóp của cơ tim, cải thiện khả năng bơm máu của tim.

    Việt Nam có loại quả khô "vàng mười", ngâm với nước giúp hạ mỡ máu, ngừa ung thư - Ảnh 1.

    Táo gai mang lại nhiều lợi ích sức khỏe đáng kinh ngạc

    Ngăn ngừa ung thư

    Với hàm lượng flavonoid và anthocyanin cao, táo gai được xem là một “thực phẩm vàng” trong việc phòng ngừa ung thư. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, việc tiêu thụ táo gai thường xuyên có thể giúp giảm nguy cơ mắc ung thư vú, một trong những loại ung thư phổ biến nhất ở phụ nữ. Bên cạnh đó, táo gai còn có tác dụng ức chế sự phát triển của tế bào ung thư phổi, ung thư đại tràng và một số loại ung thư khác.

    Hạ mỡ máu

    Các nghiên cứu khoa học đã chỉ ra rằng, táo gai sở hữu khả năng hạ mỡ máu đáng kể nhờ sự hiện diện của các hợp chất sinh học quý giá như triterpenoid và flavonoid. Những hợp chất này ngăn chặn quá trình sản sinh cholesterol trong gan, đồng thời thúc đẩy quá trình đào thải cholesterol ra khỏi cơ thể. Bên cạnh đó, pectin – một loại chất xơ hòa tan dồi dào trong táo gai – đóng vai trò như một “bọt biển” tự nhiên, hấp thụ cholesterol trong đường ruột và đưa chúng ra khỏi cơ thể theo đường phân.

    Hỗ trợ tiêu hóa

    Enzyme delipase có trong táo gai đóng vai trò như một “chìa khóa vàng” giúp mở khóa quá trình tiêu hóa chất béo. Khi chúng ta tiêu thụ các loại thực phẩm giàu chất béo, enzyme delipase sẽ được kích hoạt và bắt đầu phân hủy các phân tử lipid lớn thành các phân tử nhỏ hơn, dễ tiêu hóa hơn. Nhờ đó, cơ thể có thể hấp thụ chất béo một cách hiệu quả, giảm thiểu tình trạng tích tụ mỡ và cải thiện đáng kể quá trình tiêu hóa.

    Việt Nam có loại quả khô "vàng mười", ngâm với nước giúp hạ mỡ máu, ngừa ung thư - Ảnh 2.

    Táo gai có tác dụng hỗ trợ hệ tiêu hóa

    Tăng cường miễn dịch

    Vitamin C và các chất chống oxy hóa dồi dào trong táo gai đóng vai trò như những “chiến binh” bảo vệ cơ thể khỏi sự tấn công của các gốc tự do – thủ phạm gây ra nhiều bệnh tật. Các chất này hoạt động như những “lá chắn” vững chắc, trung hòa các gốc tự do, ngăn chặn chúng gây tổn hại đến tế bào và hệ miễn dịch. Đồng thời, vitamin C còn tham gia trực tiếp vào quá trình sản sinh các tế bào miễn dịch, giúp tăng cường khả năng chống lại nhiễm trùng.

    Táo gai giảm căng thẳng, lo âu

    Táo gai chứa nhiều hợp chất tự nhiên có tác dụng lên hệ thần kinh trung ương, giúp giảm căng thẳng và lo âu. Các hoạt chất này có khả năng làm dịu hệ thần kinh, ức chế sự hoạt động quá mức của não bộ, từ đó giúp bạn cảm thấy thư thái và dễ chịu hơn. Đồng thời, táo gai còn hỗ trợ điều hòa sản xuất melatonin – hormone ngủ, giúp cải thiện chất lượng giấc ngủ.

    Táo gai có thể được sử dụng theo nhiều cách khác nhau: ăn trực tiếp, làm mứt, ngâm rượu, pha trà hoặc dùng để chế biến món ăn. Tuy nhiên, cần lưu ý những đại kỵ dưới đây để tránh những tác dụng phụ không mong muốn:

    – Không nên ăn quá nhiều táo gai, đặc biệt là khi đói, vì có thể gây đau dạ dày.

    – Phụ nữ mang thai và cho con bú nên tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi sử dụng.

    – Người đang sử dụng thuốc điều trị bệnh tim mạch, huyết áp nên thận trọng khi sử dụng táo gai.

    Post Views: 3.144

  • Người mẹ đi mua sắm nhưng không bao giờ quay lại, 14 năm sau gia đình bà mới phát hiện ra lý do .

    Người mẹ đi mua sắm nhưng không bao giờ quay lại, 14 năm sau gia đình bà mới phát hiện ra lý do .


    Tôi giật mình vì tiếng gõ nhẹ như mỏ chim chạm vào song cửa. Ba tiếng, ngập ngừng, rồi im bặt. Gió lùa qua khe cửa sổ làm chiếc rèm bông tím ốp vào tường một lát, như ai đó khẽ ghì lòng bàn tay vào vai tôi. Đồng hồ treo tường chỉ đúng mười hai giờ bốn mươi ba phút, kim giây chạy qua con số mười hai bằng một cú nhảy khẽ khàng, không ai nghe thấy.

    Linh vừa đi công tác hai hôm, dặn tôi ngủ sớm, ăn cháo gà trong tủ lạnh, tối chớ mở cửa cho người lạ. Tôi đã định vặn khóa chặt thêm một vòng, nấu cho mình ấm nước chanh, rồi ngồi nhìn cái bóng của chậu trầu bà loang trên tường. Không hiểu sao đêm nay đầu nặng như buộc túi cát, bàn tay trái tê rịn. Tôi đổ tại tuổi năm mươi lăm. Người ta nói, qua một mùa, cây bắt đầu có những tiếng răng rắc không ai nghe ngoài chính nó.

    Lần gõ thứ hai không còn nhẹ nữa. “Mẹ ơi.” Tiếng thì thầm sát mép cửa đủ để tôi nhận ra. Tôi đứng bật dậy, tim đập một nhịp như hụt chân trên cầu thang.

    Khải.

    Tôi luống cuống kéo then, cố chậm rãi như thể mình không hề vội. Cửa mở ra, đập vào mùi đêm ẩm và mùi mồ hôi của một người vừa chạy đường ngắn. Khải cởi trần, người mướt mải, tóc bết, mặt đỏ gay. Ánh đèn hành lang loang trên bờ vai nó như vệt nước phết qua cái chén sành. Trên tay nó là chiếc khăn tắm đã bạc, cầm chặt như một lá cờ đầu hàng.

    “Con xin lỗi vì làm mẹ giật mình.” Giọng nó hơi khàn. “Mẹ… mẹ có thuốc cảm không? Nếu không, mẹ cho con xin… trứng. Con… nhờ mẹ luộc giúp một quả, để… đánh cảm.”

    Tôi sững lại, từng chữ rơi vào tai tôi lộp độp như hạt mưa đầu mùa rơi lên tấm tôn nóng. “Đánh cảm?” Tôi nhắc lại, và nhận ra giọng mình đanh quá, như một sợi dây đàn vặn quá tay.

    Nó gật, mắt nhìn xuống đầu ngón chân. “Con… lên cơn lạnh. Ở nhà con không còn thuốc. Với… trứng bên con để quên ở tủ lạnh tầng hầm, lười xuống lấy. Con sợ quấy rầy mẹ, nhưng con run quá, con… nghĩ đến mẹ hay đánh cảm cho ba ngày xưa.”

    Tôi nghe thấy một tiếng bật cười nhỏ của số phận đâu đó trong kẽ gạch. Đây là đề nghị mà nếu kể ra, ai cũng bảo “khó tin”: con rể cởi trần nửa đêm, mồ hôi nhễ nhại, sang phòng mẹ vợ xin trứng để đánh cảm. Linh mà nghe, chắc trừng mắt: “Mẹ đừng!” Bà Lựu phòng đối diện mà chứng kiến, mai đã có chuyện để kể ở quầy rau.

    Tôi đứng nép một chút vào cánh cửa như tìm chỗ bấu. Trong đầu tôi là bao điều lằng nhằng: cái áo sơ mi nó treo trong nhà vẫn còn nguyên mùi nước xả, nó là điều dưỡng khoa cấp cứu, đêm chạy ca liên tục, giờ về chắc lăn ra giường được thì phúc. Tôi không ưa cái nghề ấy—vì những ca đêm kéo thằng đàn ông trẻ ra khỏi bữa cơm, vì Linh phải ôm gối một mình, vì tôi cứ mường tượng ra những hành lang mùi thuốc sát trùng và những giường bệnh có tấm rèm kéo lại. Tôi càng không ưa cái sự “khó tin” của đề nghị này. Nhưng tôi cũng nhớ một người đàn ông đã đi khỏi đời tôi bằng một mùa mưa, mỗi lần nặng đầu lại gọi “bà luộc trứng, đánh cho tôi một lượt”.

    Khải cúi đầu. “Mẹ… nếu phiền, con về. Con xin lỗi vì…”

    “Đứng lại.” Tôi ngắt lời, sợ câu “xin lỗi” kia sẽ làm chúng tôi trượt khỏi bậc thềm duy nhất nối hai nhà. “Vào đi. Mặc áo vào đã.”

    Nó chớp mắt như không tin mình vừa nghe đúng. Tôi chỉ tay vào cái áo khoác mỏng treo sau cửa. “Cái này. Mặc tạm.” Nó kéo áo vào, thân người gọn ghẽ, những vệt xước mảnh nơi cánh tay trái sắp khô. Tôi chưa kịp hỏi thì nó nói trước: “Con vấp ngã ngoài ngõ.”

    Tôi mở bếp gas, bật cái lửa nhỏ nhất, đặt lên đó cái nồi nhôm bé chuyên dùng cho những việc kì cục: nấu gừng, luộc trứng, đun cánh hoa bưởi. Nước sôi lốp bốp, tôi thả vào hai quả trứng. “Một quả cho con, một quả… dự phòng,” tôi nói, vừa để bớt ngượng, vừa để đẩy cho cái không khí bối rối một cái trụ mà bám. Khải đứng bên, hai tay đan vào nhau, nhìn ngọn lửa xanh. Mồ hôi còn đọng ở thái dương nó, nhưng ánh mắt bình thản lạ.

    “Con ăn gì chưa?”—Tôi hỏi.

    “Con ăn cái bánh mì ở ca tối. Rồi… chạy loanh quanh.” Nó cười, không biết tự trào hay xin tha.

    “Loanh quanh đâu mà đỏ mặt thế này?”

    “Con… nóng thật mà mẹ.” Nó giơ cổ tay: “Con sốt nhẹ.”

    Tôi chưa kịp đưa tay lên trán nó thì bên ngoài có tiếng thụp thụp—giày dép ai đó quệt trên nền hành lang—và tiếng ho của bà Lựu. Tôi vội kéo cánh cửa bếp cho khép lại, như thể khói trứng cũng có thể mang theo tai tiếng.

    Trứng chín, tôi vớt ra, đặt lên khăn xô, lăn cho vỏ nứt đều. Khải ngồi xuống ghế tre, lưng thẳng, mắt nhìn tôi chờ đợi như đứa trẻ đợi mũi kim tiêm. Tôi tự dưng thấy buồn cười: những ranh giới trong nhà, lằn ranh của vai vế, ni tấc của nề nếp—tất cả có vẻ rõ ràng cho đến khi con người ta đau đầu và cần một quả trứng.

    “Đưa lưng đây.” Tôi nói, giữ giọng bình thường như mình vẫn làm mỗi khi đem bánh chưng ra phơi nắng. Nó tụt chiếc áo khoác qua vai, còn tôi cẩn thận bọc quả trứng nóng trong khăn, lăn dọc theo xương sống. Mùi trứng chín quyện mùi nước giặt và một chút mùi người lành, lạ thế mà quen.

    “Đau không?”—Tôi hỏi.

    “Ấm thôi, mẹ.” Giọng nó thấp. “Ngày nhỏ, ngoại con hay lăn trứng, bảo để ‘hút gió’. Con quen hơi trứng nóng từ đó.”

    Quả trứng đi qua làn da nó làm hiện dần những vệt đỏ—dấu hiệu “gió độc” theo cách gọi của người quê tôi. Tôi đùa: “Đánh xong trứng mà đỏ thế này thì… trứng vàng cũng chín.” Nó cười khẽ. Tôi lăn qua vai, xuống cánh tay, dừng lại ở chỗ xước. “Ngã thế nào?”—Tôi hỏi lại.

    “Con đuổi theo… một thằng móc túi.” Nó nói, thản nhiên đến mức tôi tưởng mình nghe nhầm. “Ở ngã tư. Nó giật ví của một bà già bán xôi. Con nhảy xuống xe… không kịp thắng.”

    Tôi khựng lại một nhịp. “Bắt được không?”

    “Con bắt được ví. Thằng kia chạy mất. Bà ấy khóc, ôm con. Rồi con chạy về. Đến nhà, con mới… lạnh.” Nó nói, như đang kể một chuyện chiều nay trong bản tin phường.

    Lưng nó có những quầng ửng mơ hồ, nhưng đều. Tôi thấy yên tâm một phần: những vệt màu ấy, bấy lâu nay đặt tên là “gió”, thật ra chỉ là máu dồn về chỗ bị kích thích. Vậy cũng tốt, trứng có cớ làm việc. Tôi lăn thêm mấy vòng, tay trái bỗng nặng hơn. Ngón cái tê như có kim châm. Tôi giấu bàn tay vào gấu khăn.

    “Con quay mặt lại,” tôi bảo, chuyển quả trứng lên vùng ngực nó, lăn qua chỗ ức. Tự dưng ngực tôi nghèn nghẹn. Ở cự li gần, tôi nhìn thấy một vệt sẹo nhỏ trên xương đòn của nó—sẹo cũ, trắng. Mỗi con người đều có những vệt riêng, như cây có đốt, như gió có mùi.

    Khải ngẩng lên nhìn tôi, mắt nó, qua bóng đèn, ánh lên tí ánh lân tinh. “Mẹ có mệt không? Tay mẹ… run?” Nó hỏi, như không lạ khi người đang được “đánh cảm” lại đi dò chừng sức người đang “đánh”.

    “Già thì run.” Tôi cười khẽ, dằn câu vờn câu, giấu đi cái tê đang lan lên cánh tay.

    “Con… xin phép hỏi.” Nó nói, lạ thay bỗng nghiêm. “Mẹ thấy mặt bên trái của con có gì khác bên phải không? Như… hơi xệ, hay… miệng lệch?” Nó cười, làm bộ chu môi. “Ngoại con dạy, ai bị gió độc thì có khi… lệch miệng.”

    “Không.” Tôi phì cười. “Miệng con vẫn đều, nói dối giỏi như thường.”

    Nó không cười theo. Nó đứng dậy, đi một vòng quanh bàn, rót nước, đưa cho tôi. Tôi định nói “con là khách, để mẹ”, nhưng tay trái tôi bỗng rơi đánh phịch vào mặt bàn như một củ khoai mỏi. Chiếc cốc lạch cạch, nước tràn ra mép. Khải cúi xuống, nhấc tay tôi lên, mắt đổi sắc trong tích tắc.

    “Mẹ ơi.” Giọng nó hạ xuống mức tôi chưa nghe bao giờ—trầm, dứt khoát—cái giọng tôi chỉ thấy ở bệnh viện, qua mấy clip quảng bá gì đó của nơi nó làm. “Mẹ cười giúp con một cái. Thật to.”

    Tôi cười. Nửa mặt phải nhếch bình thường. Nửa mặt trái nặng như túi cát. Tôi không nhìn thấy, nhưng tôi biết.

    “Giơ hộ con hai tay lên ngang vai.” Nó nói tiếp. Tôi làm theo. Tay trái của tôi chỉ nhích được nửa chừng, rồi rơi xuống. Đúng giây ấy, tôi nghe tiếng tim mình đập to bằng tiếng búa gõ vào vách. Khải không để tôi kịp hoang mang, nó chụp điện thoại, bấm nhanh, vừa bấm vừa nói như đọc thuộc lòng: “Nửa người yếu. Mặt trái xệ. Nói… mẹ nói một câu dài giúp con.”

    “Tao—mẹ—tao… mẹ…” Tôi lắp bắp, cả cái lưỡi trở thành hòn đá vô tích sự. Tôi bỗng hiểu ra: trứng luộc chỉ là cái cớ dễ thương của một đêm không dễ thương. Hoặc đúng hơn: là cây cầu không ai ngờ để đi qua một bờ nghiêng.

    “Đủ rồi.” Nó đỡ tôi đứng dậy, vòng tay qua lưng tôi, nhanh và nhẹ như một người đã làm thế nhiều lần. “Mẹ bị TIA hoặc đột quỵ thiếu máu thoáng qua. Mình còn giờ vàng. Con gọi 115 rồi.” Nó nhìn thẳng vào mắt tôi: “Mẹ tin con. Đi với con.”

    Tôi định phản xạ theo cách cũ—“Không sao đâu, mẹ qua rồi, mai đi”—nhưng giọng nói của nó, cái bàn tay ấm của nó trên vai tôi, và một nỗi sợ không tên như mùi khói mỏng bốc lên từ dưới sàn, khiến tôi gật đầu. Nó vừa gọi xe vừa kéo áo khoác cho tôi, đôi tay bình tĩnh, mắt quyết liệt, mồ hôi lại rịn ra như một hỗn hợp của sốt và lo. Tôi tựa vào vai nó, cảm thấy mình bé lại. Tôi nghe tiếng thang máy; đôi mắt bà Lựu ló qua cửa hé. Khải nói nhanh: “Bác ơi, mẹ con… không khỏe. Con đưa mẹ đi viện. Bác trông giúp cái bếp.” Không để bà kịp hỏi, nó đã dìu tôi vào thang.

    Gió đêm táp vào mặt tôi ở khoảng sân chung cư. Tôi thấy những ngọn đèn như vết mực lẫn nước. Khải bế thốc tôi lên chiếc xe vừa trờ tới, nói với tài xế một tràng địa chỉ và khoa. Tôi không nhớ mình đã nói gì, chỉ nhớ cánh tay nó siết bả vai tôi, bảo “mẹ nhìn con, đừng ngủ”, rồi áp bàn tay phải của tôi vào cái điện thoại đang bật sẵn một trò chơi vớ vẩn với những chấm màu tụ lại tỏa ra. “Bóp vô, thả ra, bóp vô…” Nó thì thầm, như gọi một đứa trẻ đang sợ mưa xuống thềm.

    Ở bệnh viện, đèn trắng làm mọi thứ trắng hơn. Người ta đưa tôi qua một cánh cửa có vòng tròn đỏ. Một bác sĩ trẻ hỏi vài câu, chụp chiếu, rồi hẹn mười lăm phút nữa quay lại. Khải đứng bên, kể ngắn gọn tình huống, những câu như “thời điểm khởi phát”, “đánh giá FAST”, “không có chấn thương đầu”, “dị ứng với thuốc nào không”… Tôi nhận ra cách nó đứng: hai chân trụ vững, bả vai thẳng, mắt trông vào mắt người nói. Tôi cũng nhận ra cách họ tin nhau, cách tiếng nói của nó lọt vào một mạng lưới chuyên môn mà tôi tưởng cách xa nhà bếp của mình cả một thế kỷ.

    Kết quả không phải bản án tử. “Thiếu máu thoáng qua,” bác sĩ nói. “Chúng ta vào thuốc kịp, theo dõi sát, kiểm soát huyết áp, làm thêm xét nghiệm. May là nhà mình… biết dấu hiệu sớm.”

    Tôi quay sang Khải. Nó cười, và lần đầu tiên kể từ nửa đêm, gương mặt nó không đỏ vì sốt nữa, chỉ ấm vì nhẹ nhõm. Tôi muốn nói “cảm ơn” theo kiểu bình thường, nhưng cổ họng mình lại nghẹn bằng những sợi dây vô hình. Tôi chỉ có thể chạm vào tay nó, cái tay hơi thô ráp của một người đẩy cáng nhiều, nâng người nhiều, lau mồ hôi nhiều.

    Linh chạy vào lúc ba giờ, áo sơ mi nhàu, tóc xõa, mắt ướt. Con bé ôm lấy tôi, vừa mắng vừa khóc: “Mẹ! Mẹ làm con sợ.” Nó quay sang Khải, “Anh…” Câu sau của nó tôi chưa nghe trong đời. “Cảm ơn.”

    Khải lắc đầu, như người ta gạt một bông bụi khỏi vai. “Anh đánh cảm hụt rồi.” Nó nói, khiến hai mẹ con tôi bật cười trong một ánh sáng lạ lùng.


    Tôi nằm viện bốn ngày. Mỗi ngày Khải đều qua, sáng đưa mẹ Linh đi làm rồi ghé, chiều đi ca về lại ghé. Nó mang một túi giấy đầy trứng gà ta, cười: “Nay mẹ ăn trứng… bằng miệng.” Mỗi lần bác sĩ đến đo huyết áp, nó đứng lùi một bước, không làm lấn chỗ ai, nhưng mắt nhìn theo từng con số.

    Ngày xuất viện, bác sĩ dặn ăn nhạt, bỏ cà phê, đi bộ. Linh đẩy xe đưa tôi ra cổng, Khải lẳng lặng đi bên. Bà Lựu đã đứng chờ dưới sảnh chung cư, tay ôm một bó húng quế. Bà luống cuống: “Mẹ con có sao không? Tôi… tối ấy có sang tắt bếp giùm. Thấy nhà còn luộc… trứng.” Bà ngập ngừng ở từ “trứng”, mắt chớp nhanh. Tôi hiểu cả ngàn kịch bản xì xào đã đi ngang những ô gạch sàn nhà mình. Tôi mỉm cười: “May nhờ cháu Khải đánh cảm nên mẹ đi viện kịp.” Bà Lựu tròn mắt, rồi cười, tiếng cười vỡ ra như trái ổi rơi trúng nền.

    Tối đó, Linh ngồi xếp thuốc vào hộp chia ngày, nhắc đi nhắc lại những tiếng “đúng giờ”. Khải ngồi đối diện, bấm cái đồng hồ báo thức. Tôi nhìn hai đứa nó mà tự nhiên thấy căn nhà rộng thêm một mét mỗi phía. Khi Linh đi pha trà, tôi mới hỏi khẽ: “Con… đêm ấy thật sự sốt à?”

    Khải gãi đầu, đôi tai hơi đỏ. “Con… có nóng. Nhưng nóng vì chạy. Và vì lo.” Nó nhìn tôi, mắt chậm rãi. “Linh bảo con mấy hôm mẹ mệt, tay trái tê. Con bảo để con qua ‘kiểm tra’, mẹ sẽ không mở cửa nếu con nói thẳng. Con… nghĩ ra chuyện trứng.”

    Tôi bật cười, tiếng cười làm ngực nhẹ như được tháo bớt cúc áo. “Giỏi bày trò.”

    “Ngoại con bày.” Nó nhún vai. “Ngày xưa ngoại muốn bắt con tập đọc, toàn kèm hiểu theo trò. Ngoại bảo: người lớn không tin trò trẻ con, nhưng lại dễ tin trò của chính mình.” Nó chỉ tay vào nồi nhôm bé tôi vẫn chưa cất. “Con… mong mẹ thứ lỗi vì đã… ‘đánh lừa’ mẹ một tí.”

    Tôi lắc đầu. “Không phải lừa. Là cứu. Với lại… con cũng đánh cảm thật. Cho cả nhà.” Tôi uống ngụm trà, ngẫm nghĩ. “Thì ra cái ‘cảm’ nặng nhất, có khi không nằm ở người nóng rực mà ở người… lạnh từ từ.”

    Khải cười. Lần này, nụ cười của nó giống nắng cuối vụ, đằm đằm, cam chịu và sáng.

  • Cả nhà ‘nổ ra cuộc bàn tán’ vì chiếc phong bì 500 nghìn đồng của thông gia nghèo trong đám tang

    Cả nhà ‘nổ ra cuộc bàn tán’ vì chiếc phong bì 500 nghìn đồng của thông gia nghèo trong đám tang

    Cả nhà ‘nổ ra cuộc bàn tán’ vì chiếc phong bì 500 nghìn đồng của thông gia nghèo trong đám tang

    Câu chuyện được người con dâu trong gia đình chia sẻ. Cô cho biết, ông nội chồng cô vừa mất. Vì khoảng cách gần 100km, bố mẹ đẻ và hai anh trai cô đã phải thuê xe để lên viếng thông gia. Đây mới là lần thứ hai, thứ ba gia đình cô lên thăm nhà chồng sau hơn 5 năm cô kết hôn.

    Sinh học

     

    Hoàn cảnh gia đình cô không mấy khá giả. Bố mẹ cô làm nông, quanh năm chỉ trông vào mấy sào ruộng. Chuyến đi này, riêng tiền thuê xe đã mất gần 2 triệu đồng, chưa kể các chi phí lặt vặt khác. Với họ, đây là một khoản tiền lớn, phải chắt chiu hàng tháng trời mới có được.

    đám ma, phúng viếng, thông gia

    Ông nội chồng vừa mất, cả nhà chưa nguôi ngoai lại tiếp tục xôn xao chỉ vì… 500 nghìn đồng tiền phúng viếng từ gia đình thông gia nghèo (Ảnh minh hoạ)

    Khi đến nơi, gia đình cô đã thắp hương và gửi phúng viếng một phong bì 500 nghìn đồng. “Tôi biết, số tiền đó không nhiều so với mặt bằng chung, nhưng nó là tấm lòng của gia đình tôi. Tôi luôn cho rằng, việc gia đình thông gia từ xa đến phúng viếng được như vậy là điều trân quý, không quan trọng tiền phúng”, cô chia sẻ.

    Tuy nhiên, tấm lòng đó dường như không được gia đình chồng đón nhận. Ngay khi đám tang xong xuôi, lúc mở phong bì, cô đã thoáng thấy ánh mắt khó chịu của mẹ chồng và nghe bố chồng buông vài lời nhỏ to.

    Sự việc không dừng lại ở đó. Ngày hôm sau, chính người chồng đã gọi cô vào nói chuyện với giọng đầy trách móc:

    “Anh không định nói đâu nhưng bố mẹ phàn nàn quá, anh cũng thấy không hợp lý thật. Nhà em đi mấy người từ quê lên dự đám tang bố của thông gia mà phúng có 500 nghìn đồng. Người ta nhìn vào cười chê. Nếu không được 2 triệu thì ít ra cũng nên phúng 1 triệu. Hôm qua, lúc bố bóc phong bì, có cả các dì, các chú ngồi ở đó, anh ái ngại vô cùng. Em không biết, tối đó cả nhà còn bàn tán rất nặng lời”.

    Ô tô và xe cộ

     

    đám ma, phúng viếng, thông gia

    (Ảnh minh hoạ)

    Nghe những lời từ chồng, người vợ nghẹn ứ cổ họng. Cô cố giải thích về hoàn cảnh khó khăn của bố mẹ, rằng riêng tiền xe đã gần 2 triệu đồng và chồng cô là con rể, lẽ ra phải hiểu cho gia đình vợ. Nhưng anh gạt đi, cho rằng có khó khăn thế nào cũng phải vay mượn mà giữ thể diện.

    Câu chuyện khiến người vợ vô cùng tủi thân và thất vọng. Cô cho rằng đám tang đã biến thành nơi người ta soi xét nhau qua giá trị vật chất, thay vì là nơi để chia sẻ nỗi buồn. Ở quê cô, tiền phúng viếng thông thường cũng chỉ 100-200 nghìn đồng.

    Cô tự hỏi: “Tại sao người ta lại đặt nặng chuyện tiền bạc trong tang lễ đến vậy? Chẳng lẽ tình cảm chỉ được đo bằng số tiền phúng viếng?”

    Từ hôm đó, mối quan hệ giữa cô và gia đình chồng trở nên xa cách. Bố mẹ chồng nhìn cô bằng ánh mắt khác. Người vợ ngậm ngùi: “Tôi thấy buồn và cũng thấy thương bố mẹ mình nhiều hơn. Trong cái nghèo, họ vẫn cố gắng làm tròn trách nhiệm, chỉ tiếc là tấm lòng không được thấu hiểu”.

  • Trên máy bay, tôi tình cờ gặp chồng đi công tác. Nữ thư ký của anh ta đang gối đầu ngủ ngon lành trong lòng anh.

    Trên máy bay, tôi tình cờ gặp chồng đi công tác. Nữ thư ký của anh ta đang gối đầu ngủ ngon lành trong lòng anh.

    Trên chuyến bay ở độ cao mười nghìn mét,  tôi nhìn chồng mình và cô thư ký nữ của anh ta, mỉm cười nói ra câu này.

    Ngay giây sau, mặt anh ta trắng bệch.

    Hàng mi cô ta run lên như bị điện giật.

    Tiếp viên đẩy xe đồ ăn đi ngang qua, lịch sự hỏi:
    “Thưa ông, vợ ông có cần chăn không ạ?”

    Chồng tôi há miệng, nhưng không thốt ra nổi một chữ.

    Còn tôi, chỉ muốn xem vở kịch này rốt cuộc có thể diễn đến mức nào.

    Tôi tên là Lâm Hiểu Nam, ba mươi hai tuổi, làm quản lý thu mua tại một công ty ngoại thương.

    Kết hôn năm năm, chồng tôi Trịnh Minh Viễn hơn tôi ba tuổi, là giám đốc kinh doanh của một công ty công nghệ.

    Trong mắt người ngoài, chúng tôi là một cặp xứng đôi.

    Đều tốt nghiệp đại học, đều có công việc đàng hoàng, có nhà có xe ở thành phố hạng hai, cuộc sống ổn định.

    Nhưng hôn nhân giống như đôi giày, có vừa hay không chỉ người mang mới biết.

    Trịnh Minh Viễn đối với tôi không đến mức tệ.

    Mỗi tháng đều nộp một nửa lương đúng hạn, lễ tết chuyển lì xì, đi công tác cũng mang quà về.

    Nhưng anh ta có một tật xấu, là quá thân thiết với nữ thư ký.

    Nữ thư ký tên là Tôn Vũ Manh, hai mươi tám tuổi, xinh đẹp, dáng chuẩn, miệng ngọt.

    Lần đầu gặp cô ta là ở tiệc thường niên công ty.

    Cô ta mặc váy đỏ, khoác tay Trịnh Minh Viễn đi mời rượu, cười rạng rỡ.

    Tôi thấy không thoải mái.

    Nhưng Trịnh Minh Viễn lại nói:
    “Công việc thôi, đừng nghĩ nhiều.”

    Thật sự là tôi nghĩ nhiều sao?

    Nửa năm nay, tần suất công tác của Trịnh Minh Viễn ngày càng dày.

    Từ mỗi tháng một hai lần, biến thành mỗi tuần hai ba lần.

    Tôi hỏi, anh ta liền nói:
    “Đi gặp khách bàn dự án, làm giám đốc kinh doanh dễ lắm à?”

    Tôi không phải kiểu phụ nữ vô lý gây chuyện, cũng không muốn trở thành người vợ suốt ngày kiểm tra chồng.

    Nhưng cái gai ấy, cứ thế cắm vào tim.

    Cho đến hôm đó.

    Công ty cử tôi đi Quảng Châu xử lý vấn đề chất lượng của nhà cung cấp.

    Tôi đặt chuyến bay lúc tám giờ sáng.

    Ngày lên máy bay, tôi kéo vali qua cửa an ninh, tìm đến ghế cạnh cửa sổ hàng 14 khoang phổ thông.

    Cất hành lý xong, tôi nhắn tin cho Trịnh Minh Viễn:
    “Đi công tác Quảng Châu, mai về.”

    Anh ta trả lời ngay:
    “Chú ý an toàn, đến nơi nhắn anh.”

    Tôi cười nhẹ, đang định tắt máy, thì bỗng nghe thấy một giọng nói quen thuộc:
    “Thư ký Tôn, cô ngồi cạnh cửa sổ đi, tôi ngồi giữa.”

    Tim tôi chợt thắt lại.

    Qua khe ghế, tôi nhìn thấy Trịnh Minh Viễn mặc bộ vest xanh đậm tôi mua, đang giúp Tôn Vũ Manh đặt hành lý.

    Tôn Vũ Manh mặc áo len trắng, buộc tóc đuôi ngựa, trẻ trung xinh đẹp.

    Cô ta cười nói:
    “Cảm ơn anh Trịnh.”

    Họ ngồi cách tôi hai hàng ghế phía trước.

    Đầu óc tôi “ong” một tiếng.

    Anh ta nói đi công tác, hóa ra là đến Quảng Châu?

    Còn đi cùng nữ thư ký?

    Tôi hít sâu, tự nhủ đừng nghĩ lung tung.

    Đồng nghiệp cùng đi công tác là chuyện bình thường.

    Nhưng không lâu sau khi máy bay cất cánh, tôi thấy đầu Tôn Vũ Manh tựa lên vai Trịnh Minh Viễn.

    Anh ta không đẩy ra, ngược lại còn đưa tay ôm vai cô ta.

    Một lúc sau, Tôn Vũ Manh còn gối đầu lên đùi anh ta, co người trong ghế ngủ say.

    Trịnh Minh Viễn cúi đầu nhìn cô ta, ánh mắt dịu dàng.

    Kiểu dịu dàng đó,  tôi chưa từng thấy.

    Hốc mắt tôi lập tức đỏ lên, nhưng tôi nhịn lại.

    Không xông lên chất vấn, không khóc lóc.

    Chỉ lặng lẽ nhìn.

    Tiếp viên đẩy xe đồ ăn tới, thấy Tôn Vũ Manh đang gối lên đùi Trịnh Minh Viễn, lịch sự hỏi:
    “Thưa ông, vợ ông có cần chăn không ạ?”

    Trịnh Minh Viễn sững lại một chút:
    “Vâng, cảm ơn.”

    Anh ta nhận lấy chăn, cẩn thận đắp lên người Tôn Vũ Manh.

    Nước mắt tôi cuối cùng cũng rơi xuống.

    Vợ?

    Ha.

    Lau khô nước mắt, tôi đứng dậy đi đến bên ghế họ, mỉm cười gọi:
    “Anh!”

    Trịnh Minh Viễn ngẩng đầu, mặt lập tức trắng bệch.

     Tôi tiếp tục cười:
    “Chị dâu trẻ thật đấy!”

    Tôn Vũ Manh bị đánh thức, nhìn thấy tôi, lông mi run dữ dội, cả người cứng đờ.

    “Anh, anh với chị dâu đi Quảng Châu hưởng tuần trăng mật à?” Tôi vẫn giữ nguyên nụ cười.

    Môi Trịnh Minh Viễn run lên, không nói được một chữ.

    Tôn Vũ Manh hoảng hốt ngồi dậy, mặt đỏ bừng.

    Tiếp viên đi ngang qua, lộ vẻ lúng túng.

    Tôi quay người trở về chỗ, tay run, tim đập nhanh như muốn nhảy ra ngoài.

    Nhưng tôi không khóc.

    Lâm Hiểu Nam, lúc này mà khóc, là thua rồi.

    Máy bay hạ cánh, tôi đợi gần như mọi người xuống hết mới đứng dậy.

    Không muốn chạm mặt trong khoang, quá khó xử.

    Nhưng vừa đến cửa máy bay, đã thấy Trịnh Minh Viễn đứng ở cầu nối chờ tôi.

    Tôn Vũ Manh cúi đầu đứng sau lưng anh ta.

    Mặt Trịnh Minh Viễn xanh như thép:
    “Lâm Hiểu Nam, sao em lại ở đây?”

    “Tôi đi công tác, công ty cử. Sao vậy?”

    “Vừa rồi trên máy bay là ý gì?”

    “Thấy anh trai và chị dâu tôi, chào hỏi thôi.”

    Tôn Vũ Manh đỏ mắt:
    “Chị dâu, xin lỗi…”

    “Đừng,” tôi ngắt lời, “cô gọi tôi là chị dâu không hợp đâu, tôi với cô đâu có quen.”

    Trịnh Minh Viễn vội nói:
    “Mọi chuyện không phải như em nghĩ!”

    “Vậy là như nào? Anh nói thử xem.” Tôi nhìn chằm chằm anh ta.

    Anh ta há miệng, nhưng không nói được.

    Tôn Vũ Manh kéo tay áo anh ta:
    “Anh Trịnh, khách hàng đang đợi, chúng ta đi trước đi.”

    “Giải thích cái gì?” Tôi nhìn Trịnh Minh Viễn,
    “Giải thích tại sao anh đi công tác với nữ thư ký? Giải thích tại sao cô ta gối lên đùi anh? Giải thích tại sao tiếp viên gọi cô ta là ‘vợ anh’?”

    Anh ta sững lại:
    “Đó là hiểu lầm.”

    “Hiểu lầm? Vậy sao anh không đính chính? Tại sao lại đắp chăn cho cô ta?”

    Anh ta cứng họng.

    “Tôi không muốn cãi nhau ở sân bay, mất mặt. Anh làm việc của anh, tôi làm việc của tôi.”

    Nói xong tôi quay người bỏ đi.

    “Anh Trịnh, khách hàng đang đợi rồi!” Tôn Vũ Manh gọi phía sau.

    Tôi không quay đầu.

    Taxi chạy về phía nhà máy của nhà cung cấp.

    Tôi cứ nghĩ mãi.

    Cuộc hôn nhân này rốt cuộc sai ở đâu?

    Là tôi chưa đủ tốt? Quá mạnh mẽ?

    Hay đàn ông đều thích trẻ đẹp?

    Tôi không biết.

    Chỉ biết, thế giới của tôi sụp đổ ngay trong ngày hôm đó.

    Đến nhà máy, tôi bình tĩnh chuyên nghiệp bàn về chất lượng, bồi thường, chỉnh sửa.

    Hoàn toàn không ai nhìn ra tôi vừa trải qua chuyện gì.

    Ông chủ Lưu của nhà cung cấp nhiệt tình mời ăn cơm, tôi lấy cớ xử lý tài liệu để từ chối.

    Chỉ muốn ở một mình.

    Về khách sạn, tôi nằm trên giường.

    Điện thoại reo.

    Trịnh Minh Viễn gọi.

    Tôi không nghe.

    Anh ta gọi lại.

    Vẫn không nghe.

    Anh ta nhắn:
    “Chúng ta nói chuyện đàng hoàng đi.”

    “Không có gì để nói.”

    “Anh và Tôn Vũ Manh thật sự không có gì, chỉ là đồng nghiệp bình thường.”

    Tôi cười lạnh.

    Đồng nghiệp bình thường mà gối lên đùi nhau?

    Xem tôi là trẻ con ba tuổi à?

    Tắt máy.

    Đêm đó tôi trằn trọc không ngủ được.

    Trong đầu toàn là cảnh trên máy bay.

    Như dao cứa vào tim.

    Nhớ lại lúc mới cưới, anh ta từng dịu dàng nhìn tôi.

    Giúp tôi sấy tóc, đắp chăn khi tôi ngủ, lúc tôi ốm thì canh bên giường.

    Không biết từ khi nào, tất cả đều thay đổi.

    Về nhà ngày càng muộn, nói chuyện ngày càng ít, ánh mắt từ dịu dàng biến thành qua loa.

    Tôi từng nghĩ anh ta bận công việc, áp lực lớn.

    Giờ mới biết.

    Là bên ngoài đã có người.

    Xử lý xong việc ngày hôm sau, tôi bay thẳng về nhà.

    Không báo cho Trịnh Minh Viễn, cũng không để anh ta ra đón.

    Bảy giờ tối về đến nơi, trong nhà không có ai.

    Bật đèn lên, tấm ảnh cưới trong phòng khách, chúng tôi cười rất vui.

    Còn bây giờ thì sao?

    Tôi bước vào phòng ngủ, mở tủ quần áo.

    Quần áo của Trịnh Minh Viễn treo ngay ngắn, có mấy bộ tôi mua thậm chí còn chưa tháo mác.

    Tôi lấy vali ra, bắt đầu thu dọn.

    Không muốn ở lại cái nhà này nữa.

    Dọn được một nửa, tôi đột nhiên dừng lại.

    Tôi đang làm gì vậy?

    Đi?

    Tại sao lại là tôi đi?

    Căn nhà này tiền đặt cọc tôi cũng bỏ một nửa, tiền trả góp mỗi tháng tôi cũng đang trả.

    Dựa vào cái gì mà tôi phải đi?

    Tôi treo quần áo trở lại, đóng tủ.

    Không được, không thể hèn như vậy.

    Phải làm rõ xem họ đã đi đến mức nào.

    Nếu thật sự ngoại tình, phải để anh ta trả giá.

    Tôi cầm điện thoại gọi cho Triệu Khải.

    Bạn đại học của Trịnh Minh Viễn, do tôi giới thiệu vào công ty, quan hệ với tôi cũng không tệ.

    “Triệu Khải, Trịnh Minh Viễn và Tôn Vũ Manh… có chuyện gì không?”

    Đầu dây bên kia im lặng vài giây, rồi thở dài:

    “Chị dâu, trong công ty đều đang truyền hai người họ ở bên nhau. Có người thấy họ đi ăn, xem phim, còn… đi ra từ khách sạn.”

    Tay tôi run, giọng vẫn bình tĩnh:

    “Từ khi nào?”

    “Chắc… khoảng nửa năm rồi.”

    Nửa năm.

    Ha.

    Tôi cúp máy, ngồi trên sofa rất lâu không động đậy.

    Nửa năm rồi, vậy mà tôi không hề phát hiện.

    Là tôi quá tin anh ta?

    Hay là quá ngốc?

    Nhớ lại nửa năm nay, anh ta đúng là đã thay đổi.

    Đi công tác không còn mang quà, về nhà lười nói chuyện, ngay cả kỷ niệm ngày cưới cũng quên.

    Tôi từng nghĩ anh ta bận.

    Giờ mới biết, là bận đi cùng người khác.

    Tối hôm đó Trịnh Minh Viễn về rất muộn.

    Mở cửa thấy tôi ngồi trên sofa, anh ta sững lại:

    “Sao không bật đèn?”

    “Đợi anh.”

    Anh ta thay giày đi tới:

    “Ăn chưa?”

    “Ăn rồi. Còn anh? Ăn cùng Tôn Vũ Manh à?”

    Mặt anh ta cứng lại:

    “Đừng vô lý gây chuyện.”

    “Tôi vô lý?” Tôi đứng dậy,
    “Chuyện anh và Tôn Vũ Manh, cả công ty đều biết rồi, anh nghĩ tôi không biết à?”

    Ánh mắt anh ta dao động:

    “Nghe ai nói?”

    “Đừng quan tâm nghe ai nói, có thật không?”

    Anh ta im lặng.

    “Im lặng là thừa nhận?”

    Anh ta hít sâu:

    “Anh và Tôn Vũ Manh… bọn anh chỉ là…”

    “Chỉ là gì? Chỉ là đồng nghiệp bình thường? Đồng nghiệp bình thường cùng nhau ra từ khách sạn?”

    Anh ta sững người:

    “Sao em biết?”

    “Trịnh Minh Viễn, anh nghĩ giấu kín lắm à? Nghĩ tôi là kẻ ngốc sao?”

    Anh ta cúi đầu im lặng rất lâu:

    “Bọn anh… ở bên nhau rồi.”

    Dù đã sớm biết, nhưng nghe chính miệng anh ta nói ra, tim vẫn như bị dao cắt.

    Tôi kìm nước mắt:

    “Bao lâu?”

    “Nửa năm.”

    “Nửa năm?”  Tôi cười,
    “Kết hôn năm năm, ngoại tình nửa năm, anh không thấy có lỗi với  tôi à?”

    Anh ta ngẩng đầu:

    “Anh xin lỗi.”

    “Xin lỗi có ích gì? Nửa năm qua tôi sống thế nào? Tôi tưởng anh bận, anh mệt, tôi còn thương anh, kết quả anh lại đi ở bên người khác!”

    Anh ta im lặng.

    Tôi hít sâu:

    “Được, đã thừa nhận rồi thì bàn ly hôn.”

    “Ly hôn?” Anh ta ngẩng đầu,
    “Em nói thật?”

    “Anh nghĩ tôi đùa à? Anh ngoại tình, tôi không ly hôn giữ lại ăn Tết chắc?”

    Anh ta vội nói:

    “Anh không phải ý đó, có thể nói chuyện lại được không?”

    “Nói gì? Nói anh ngoại tình thế nào? Hay nói bồi thường tôi ra sao?”

    Anh ta mở miệng, không nói được.

    “Tôi cho anh hai lựa chọn. Một, ly hôn thỏa thuận, nhà xe chia đôi, anh trả tiền cấp dưỡng. Hai, ra tòa, đưa bằng chứng ngoại tình ra, anh đừng mong lấy được gì.”

    Sắc mặt anh ta thay đổi:

    “Em đừng quá đáng.”

    “Tôi quá đáng? Anh ngoại tình còn có lý à?”

    Anh ta nghiến răng:

    “Anh ở bên cô ấy là vì em không hiểu anh. Em chỉ biết công việc, em có từng quan tâm anh không? Có từng hỏi anh có vui không?”

    Tôi sững lại.

    Ngoại tình mà cũng thành lỗi của tôi?

    “Trịnh Minh Viễn, đừng lật ngược trắng đen. Tôi không hiểu anh? Không quan tâm anh? Anh tăng ca tôi mang cơm, anh ốm tôi chăm, bố mẹ anh bệnh tôi hầu hạ, tôi có chỗ nào có lỗi với anh?”

    Anh ta không nói.

    “Tôi tưởng tôi không biết vì sao anh ngoại tình sao? Chẳng phải vì cô ta trẻ đẹp? Đàn ông đều như vậy, trong nhà thì vợ già, bên ngoài thì trẻ đẹp, quá bình thường.”

    Anh ta ngẩng đầu:

    “Lâm Hiểu Nam, em…”

    “Tôi nói sai à? Anh chính là loại người đó.”

    Anh ta hít sâu:

    “Được, nếu đã nói vậy thì không còn gì để nói. Ly hôn thì ly hôn, nhưng nhà xe chia đôi, em đừng nghĩ lấy nhiều hơn.”

    “Yên tâm, tôi chỉ lấy phần tôi đáng được.”

    Nói xong tôi vào phòng ngủ, đóng cửa lại.

    Dựa lưng vào cửa, nước mắt cuối cùng cũng rơi xuống.

    Năm năm hôn nhân.

    Kết thúc rồi.

    Sáng hôm sau Trịnh Minh Viễn đi từ sớm.

    Trên bàn để lại một tờ giấy: “Nhanh chóng gom tiền, chuẩn bị thỏa thuận ly hôn.”

    Tôi liếc một cái, ném thẳng vào thùng rác.

    Đến công ty, đồng nghiệp nhìn tôi với ánh mắt kỳ lạ.

    Ai cũng biết chuyện Trịnh Minh Viễn ngoại tình.

    Tôi không để ý, việc của mình vẫn làm.

    Buổi trưa, trưởng phòng Vương gọi tôi:

    “Hiểu Hiểu, dạo này ổn không?”

    “Ổn, chị Vương, em ổn.”

    “Đừng cố chịu, có gì nói với chị, giúp được chị sẽ giúp.”

    “Cảm ơn chị, thật sự không sao.”

    Chị ấy thở dài:

    “Vậy là tốt. Công ty có cơ hội điều đi, sang chi nhánh Thượng Hải làm quản lý, em có muốn đi không?”

    “Đi công tác dài hạn?”

    “Hai năm, lương gấp đôi, có trợ cấp nhà ở. Muốn đi thì chị giúp em đăng ký.”

    “Tôi suy nghĩ đã.”

    “Xong thì nói chị.”

    Về chỗ ngồi, tôi cứ nghĩ mãi chuyện điều đi.

    Đi Thượng Hải, rời khỏi nơi đau lòng này, có lẽ là một cơ hội.

    Nhưng vẫn do dự.

    Bố mẹ tôi ở đây, họ lớn tuổi rồi, cần người chăm sóc.

    Tôi gọi cho mẹ:

    “Mẹ, con và Trịnh Minh Viễn… có thể sẽ ly hôn.”

    Im lặng vài giây, mẹ thở dài:

    “Mẹ đoán trước sẽ có ngày này.”

    “Mẹ biết từ trước rồi?”

    “Trực giác phụ nữ là chính xác nhất. Mẹ sớm thấy Trịnh Minh Viễn có vấn đề, càng ngày càng lạnh nhạt với con. Không nói là sợ con buồn.”

    Hốc mắt  tôi đỏ lên:

    “Mẹ, xin lỗi, làm mẹ lo lắng.”

    “Con ngốc, xin lỗi cái gì. Mẹ chỉ mong con sống tốt, vui vẻ. Nó đã có lỗi với con, ly thì ly, mẹ ủng hộ con.”

    “Cảm ơn mẹ.”

    “Cảm ơn gì, mẹ là mẹ con mà. Bên bố mẹ mẹ sẽ nói, con đừng lo. Muốn ly thì ly, nhà luôn là chỗ dựa của con.”

     Tôi không nhịn được mà khóc.

    Đúng vậy.

    Tôi vẫn còn bố mẹ, còn bạn bè.

    Dù ly hôn, tôi cũng không phải một mình.

    Tan làm, tôi đến văn phòng luật sư gặp luật sư Phương.

    Do bạn thân Tống Tư Vũ giới thiệu, chuyên xử lý ly hôn, rất chuyên nghiệp.

    Tôi kể lại toàn bộ sự việc, bao gồm ảnh chụp trên máy bay và lời Triệu Khải nói.

    Luật sư Phương gật đầu:

    “Cô Lâm, vụ này nếu ra tòa thì khả năng thắng rất cao. Cô có bằng chứng Trịnh Minh Viễn ngoại tình không?”

    “Tôi có chụp ảnh trên máy bay, không biết có dùng được không.”

    “Được, gửi tôi xem.”

    Xem xong ảnh, cô ấy nói:

    “Không vấn đề, có thể làm chứng cứ. Ngoài ra, Triệu Khải có thể ra tòa làm chứng không?”

    “Tôi hỏi thử anh ấy.”

    “Được. Nếu có thể, thì trực tiếp khởi kiện ly hôn, yêu cầu bồi thường tổn thất tinh thần.”

    “Có thể đòi bồi thường tinh thần?”

    “Đương nhiên, luật hôn nhân quy định, một bên ngoại tình dẫn đến hôn nhân tan vỡ, bên không có lỗi có quyền yêu cầu bồi thường.”

    “Được, tôi về hỏi Triệu Khải.”

    Ra khỏi văn phòng luật sư, Tống Tư Vũ kéo tôi đi ăn:

    “Phải ăn, vì loại đàn ông đó mà để mình đói thì không đáng.”

    Bị cô ấy kéo vào nhà hàng.

    Lúc gọi món, cô ấy hỏi:

    “Cậu định làm thế nào? Thật sự ly hôn à?”

    “Ừ, không ly hôn giữ lại ăn Tết chắc?”

    “Cũng đúng.” Cô ấy thở dài, “Chỉ là tiếc, ở bên nhau năm năm rồi.”

    “Tiếc có ích gì? Lúc anh ta ngoại tình có từng nghĩ đến tiếc không?”

    “Cũng phải. Tiếp theo định làm gì?”

    “Trước tiên ly hôn, sau đó sống và làm việc cho tốt.”

    “Thật sự nghĩ thông rồi?”

    “Nghĩ thông rồi. Vì người không đáng mà đau lòng, không đáng.”

    Nói thì nói vậy, trong lòng vẫn đau.

    Năm năm tình cảm, đâu phải nói buông là buông.

    Nhưng buông là bắt buộc.

    Không thể để Trịnh Minh Viễn thấy tôi yếu đuối, nghĩ tôi dễ bắt nạt.

    Về đến nhà, tôi gọi cho Triệu Khải:

    “Triệu Khải, tôi nhờ anh một việc.”

    “Chị dâu cứ nói.”

    “Anh có thể ra tòa làm chứng giúp tôi không? Chứng minh Trịnh Minh Viễn và Tôn Vũ Manh có quan hệ không chính đáng?”

    Im lặng vài giây, Triệu Khải thở dài:

    “Chị dâu, chuyện này… tôi sợ đắc tội với sếp Trịnh.”

    “Tôi biết anh khó xử. Nhưng chuyện này rất quan trọng với tôi, giúp tôi được không?”

    Anh ta do dự rất lâu:

    “Được rồi, chị dâu, tôi giúp chị.”

    “Cảm ơn.”

    “Đừng nói vậy, chuyện nên làm mà.”

    Cúp điện thoại, tôi thở phào.

    Giờ đã có chứng cứ, có cả nhân chứng.

    Tiếp theo, xem Trịnh Minh Viễn chọn thế nào.

    Tối hôm đó Trịnh Minh Viễn về, thấy tôi ở phòng khách:

    “Lâm Hiểu Nam, tôi muốn nói chuyện.”

    “Nói gì?”

    “Ly hôn.”

    “Nghĩ kỹ rồi?”

    “Ừ. Nhà xe chia đôi, tiền tiết kiệm chia đôi, được không?”

    Tôi lắc đầu:

    “Không được.”

    “Vậy em muốn thế nào?”

    “Tôi muốn bồi thường tổn thất tinh thần.”

    Anh ta sững lại:

    “Cái gì?”

    “Anh ngoại tình dẫn đến hôn nhân tan vỡ,  tôi có quyền yêu cầu bồi thường.”

    Mặt anh ta trầm xuống:

    “Đừng được đằng chân lân đằng đầu.”

    “Tôi lân đằng đầu?” Tôi nhìn anh ta,
    “Trịnh Minh Viễn, người ngoại tình là anh, anh lấy tư cách gì nói tôi quá đáng?”

    Anh ta nghiến răng:

    “Muốn bao nhiêu?”

    “Năm trăm nghìn.”

    “Năm trăm nghìn?” Anh ta trợn mắt,
    “Em điên rồi à?”

    “Tôi không điên. Không cho cũng được, gặp nhau ở tòa. Bằng chứng ngoại tình đưa ra, xem anh có chịu nổi không.”

    Mặt anh ta lúc đỏ lúc trắng:

    “Đừng quá đáng.”

    “Tôi quá đáng?”  Tôi đứng dậy nhìn anh ta,
    “Trịnh Minh Viễn, anh ngoại tình nửa năm, tôi nhịn nửa năm, không làm ầm lên, không đến công ty làm loạn, đã là giữ thể diện cho anh rồi. Không muốn đưa tiền, thì ra tòa gặp.”

    Trái cây & rau

    Anh ta hít sâu:

    “Được, em đủ tàn nhẫn.”

    “Không phải tôi tàn nhẫn, là anh tự chuốc lấy.”

    Anh ta quay người vào phòng ngủ, đóng cửa mạnh.

    Tôi ngồi trên sofa, thở dài một hơi.

    Cuộc chiến này, mới chỉ bắt đầu.

    Mấy ngày sau đó, Trịnh Minh Viễn như biến thành người khác.

    Không nói chuyện với tôi, không nhìn tôi, không ở cùng một phòng.

    Sáng đi sớm, tối về muộn, về là vào phòng làm việc đóng cửa.

    Tôi biết, anh ta đang bàn cách đối phó với Tôn Vũ Manh.

    Tôi không quan tâm, việc của mình vẫn làm.

    Một hôm, tan làm về, tôi thấy giày của Trịnh Minh Viễn ở cửa.

    Về sớm thật.

    Tôi thay giày bước vào, anh ta ngồi trên sofa, trước mặt đặt một tập tài liệu.

    “Về rồi?” Giọng anh ta bình thản.

    “Có chuyện gì?”

    Anh ta chỉ vào tập tài liệu:

    “Thỏa thuận ly hôn, xem đi.”

    Tôi cầm lên xem.

    Nhà xe chia đôi, tiền tiết kiệm chia đôi, không có bồi thường tổn thất tinh thần.

    Tôi đặt xuống:

    “Tôi đã nói rồi, tôi muốn năm trăm nghìn bồi thường tinh thần.”

    Anh ta hít sâu:

    “Năm trăm nghìn quá nhiều, tôi không có nhiều tiền như vậy.”

    “Không có tiền?” Tôi cười,
    “Một tháng anh hơn hai mươi nghìn, cộng thưởng cuối năm, một năm ít nhất ba trăm nghìn. Không có tiền? Tiền đi đâu rồi? Tiêu cho Tôn Vũ Manh à?”

    Mặt anh ta đỏ bừng:

    “Em nói linh tinh gì vậy?”

    “Tôi nói linh tinh? Hai người ở bên nhau nửa năm, anh mua túi xách, quần áo, mỹ phẩm cho cô ta, tưởng miễn phí à?”

    Anh ta mở miệng, không nói được.

    “Tôi nói cho anh biết, không đưa năm trăm nghìn thì ra tòa. Đến lúc đó không chỉ mất tiền, còn mất cả công việc. Nghĩ cho kỹ.”

    Anh ta nghiến răng:

    “Em nhất định phải làm vậy sao?”

    “Tôi nhất định phải làm vậy. Là anh có lỗi trước, đừng trách tôi không nể tình.”

    Anh ta im lặng rất lâu:

    “Được, tôi đưa. Nhưng không thể đưa một lần năm trăm nghìn, có thể trả góp không?”

    “Không. Hoặc trả một lần, hoặc ra tòa.”

    Anh ta hít sâu:

    “Được, em chờ đấy.”

    Nói xong đứng dậy vào phòng làm việc, đóng cửa mạnh.

    Tôi ngồi trên sofa nhìn bản thỏa thuận ly hôn, trong lòng không nói rõ được cảm giác gì.

    Ly hôn, nói thì dễ, làm mới khó.

    Năm năm tình cảm, đâu phải nói dứt là dứt.

    Nhưng không dứt thì còn ý nghĩa gì?

    Anh ta đã không còn yêu tôi.

    Cố giữ cuộc hôn nhân này còn để làm gì?

    Tôi nhớ mẹ từng nói:

    “Phụ nữ đừng bao giờ coi đàn ông là tất cả. Một ngày nào đó anh ta rời đi, con sẽ chẳng còn gì.”

    Trước đây tôi không tin.

    Bây giờ, tôi tin rồi.

    Đêm đó tôi nằm trên giường, lăn qua lộn lại không ngủ được.

    Điện thoại reo, Tống Tư Vũ nhắn:

    “Hiểu Nam, nói chuyện thế nào rồi?”

    “Anh ta muốn trả góp năm trăm nghìn, tôi không đồng ý.”

    “Làm đúng, cầm tiền một lần vẫn an toàn nhất.”

    “Ừ, tôi biết.”

    “À đúng rồi, luật sư Phương nói có thể giúp cậu soạn thỏa thuận ly hôn, đảm bảo có lợi nhất cho cậu.”

    “Được, giúp tôi cảm ơn anh ấy.”

    “Cảm ơn gì, bạn bè cả. Đừng buồn, đàn ông tốt còn nhiều, không thiếu mình anh ta.”

    Tôi cười khổ:

    “Tôi biết.”

    “Ngủ sớm đi, đừng nghĩ nhiều.”

    “Ừ, ngủ ngon.”

    Tắt điện thoại, tôi nhìn lên trần nhà.

    Đầu óc rối bời.

    Đột nhiên nghĩ đến một chuyện.

    Trịnh Minh Viễn ngoại tình nửa năm, cả công ty đều biết, chỉ có tôi không biết.

    Điều đó có nghĩa gì?

    Có nghĩa là anh ta căn bản không coi tôi ra gì.

    Ha.

    Tôi xoay người, nhắm mắt lại.

    Thôi, không nghĩ nữa.

    Ngày mai còn việc của ngày mai.

    Sáng hôm sau thức dậy, Trịnh Minh Viễn đã ra ngoài.

    Trên bàn để lại một tờ giấy:

    “Cố gắng gom đủ tiền sớm, chuẩn bị thỏa thuận ly hôn.”

    Tôi nhìn một cái, ném vào thùng rác.

    Ra khỏi nhà đi làm.

    Đến công ty, đồng nghiệp nhìn tôi bằng ánh mắt kỳ lạ.

    Ai cũng biết chuyện Trịnh Minh Viễn ngoại tình.

    Tôi không để ý, việc của mình vẫn làm.

    Buổi trưa, chị Vương tìm tôi:

    “Hiểu Nam, chuyện điều đi em nghĩ thế nào?”

    “Chị Vương, em nghĩ xong rồi, em đi.”

    Chị ấy cười:

    “Biết ngay em sẽ đi. Được, chị giúp em đăng ký, chắc không vấn đề.”

    “Cảm ơn chị Vương.”

    “Không cần cảm ơn, đi rồi làm cho tốt, đừng làm mất mặt phòng.”

    “Yên tâm.

    Tiếp theo là đợi Trịnh Minh Viễn gom tiền.

    Một tháng sau, anh ta gom đủ năm trăm nghìn, chúng tôi cùng đến cục dân chính.

    Nhân viên hỏi:

    “Xác nhận ly hôn chứ?”

    Tôi gật đầu:

    “Xác nhận.”

    Trịnh Minh Viễn cũng gật:

    “Xác nhận.”

    Nhân viên thở dài:

    “Được, ký đi.”

    Chúng tôi ký tên, nhận giấy ly hôn.

    Bước ra khỏi cục dân chính, Trịnh Minh Viễn nhìn tôi:

    “Lâm Hiểu Nam, bảo trọng.”

    Tôi cười:

    “Anh cũng vậy.”

    Anh ta quay người rời đi.

    Nhìn theo bóng lưng ấy, nước mắt tôi cuối cùng cũng rơi xuống.

    Không phải vì không nỡ, mà là vì thấy tiếc.

    Tiếc năm năm tình cảm cứ thế mất đi, tiếc tấm chân tình mình trao lại bị phụ bạc.

    Tôi lau nước mắt, hít sâu một hơi.

    Từ hôm nay trở đi, tôi là Lâm Hiểu Nam.

    Không phải vợ của ai, cũng không phải con dâu nhà ai.

    Chỉ là chính tôi.

    14

    Điện thoại reo, Tống Tư Vũ gọi đến:

    “Hiểu Nam, xong rồi à?”

    “Ừ, xong rồi.”

    “Cậu đang ở đâu? Tớ đến đón.”

    “Không cần, tớ tự về.”

    “Không được, phải đón. Hôm nay là ngày quan trọng, phải ăn mừng.”

    Tôi cười khổ:

    “Ăn mừng cái gì?”

    “Ăn mừng cậu giành lại tự do!”

    Tôi sững lại một chút, rồi bật cười:

    “Được, đến đón tớ đi.”

    Không lâu sau, Tống Tư Vũ lái xe tới.

    Vừa thấy tôi, cô ấy ôm chầm lấy:

    “Hiểu Nam, cậu vất vả rồi.”

    Tôi lắc đầu:

    “Không sao, qua hết rồi.”

    Cô ấy kéo tôi lên xe:

    “Đi, đưa cậu đi ăn ngon.”

    Chúng tôi đến quán lẩu quen thuộc trước đây, gọi đầy một bàn đồ ăn.

    Tống Tư Vũ nâng ly:

    “Nào, kính Lâm Hiểu Nam, từ hôm nay bắt đầu lại!”

    Tôi cười nâng ly:

    “Được, bắt đầu lại!”

    Tối đó chúng tôi uống rất nhiều.

    Tống Tư Vũ hỏi:

    “Hiểu Nam, tiếp theo cậu định làm gì?”

    “Công ty có cơ hội điều đi, sang Thượng Hải, đang suy nghĩ có nên đi không.”

    “Đi chứ! Sao lại không đi? Đổi thành phố, đổi tâm trạng, bắt đầu lại.”

    “Nhưng bố mẹ tớ…”

    “Bố mẹ cậu có tớ rồi, cứ yên tâm đi. Tớ đảm bảo sẽ thường xuyên qua thăm họ.”

    Tôi nhìn cô ấy:

    “Tư Vũ, cảm ơn cậu.”

    “Khách sáo gì, giữa chúng ta cần gì.”

    Tôi cười, trong lòng ấm lên.

    Đúng vậy.

    Dù không có đàn ông, tôi vẫn còn bạn bè, gia đình.

    Không hề cô đơn.

    Ngày hôm sau, tôi tìm chị Vương:

    “Chị Vương, chuyện điều đi, em nghĩ kỹ rồi, em đi.”

    Chị ấy cười:

    “Biết ngay em sẽ đi. Được, chị giúp em đăng ký, chắc không vấn đề.”

    “Cảm ơn chị Vương.”

    “Không cần cảm ơn, đi rồi làm cho tốt.”

    “Yên tâm.”

    Tôi về nhà thu dọn hành lý.

    Nhìn căn nhà đã ở suốt năm năm, trong lòng dâng lên cảm giác khó tả.

    Quá nhiều ký ức.

    Tốt có, xấu có, vui có, buồn có.

    Nhưng bây giờ, tất cả đều phải buông xuống.

    Điện thoại reo, mẹ gọi:

    “Hiểu Nam, nghe Tư Vũ nói con sắp đi Thượng Hải?”

    “Ừ, công ty điều đi, hai năm.”

    “Được, đi đi, người trẻ ra ngoài xông pha là chuyện tốt.”

    “Mẹ, con đi rồi, bố mẹ nhớ chăm sóc bản thân.”

    “Yên tâm đi, tay chân còn đủ, không cần con lo. Con ở ngoài lo cho mình là được.”

    “Ừ, con biết rồi.”

    Trước ngày đi Thượng Hải, tôi về thăm bố mẹ.

    Mẹ nấu một bàn đầy đồ ăn, bố mở một chai rượu.

    “Hiểu Nam, bố kính con một ly. Sang Thượng Hải cố gắng làm việc, đừng nhớ nhà.”

    “Bố, con sẽ nhớ bố mẹ.” Hốc mắt tôi đỏ lên.

    “Nhớ thì gọi điện video, giờ tiện lắm.” Mẹ cười.

    Tôi gật đầu:

    “Ừ.”

    Ăn xong, mẹ kéo tay tôi:

    “Hiểu Nam, mẹ hỏi con một chuyện.”

    “Chuyện gì ạ?”

    “Con còn hận Trịnh Minh Viễn không?”

    Tôi nghĩ một chút:

    “Không hận nữa.”

    “Thật không?”

    “Thật. Hận một người quá mệt, con không muốn mệt nữa.”

    Mẹ gật đầu:

    “Nghĩ được như vậy là đúng. Đời người, ai mà chưa từng gặp vài gã tồi. Quan trọng là con học được gì từ đó.”

    Tôi cười:

    “Mẹ, từ khi nào mẹ triết lý thế?”

    “Mẹ con lúc nào chẳng triết lý, chỉ là con không nhận ra thôi.” Mẹ cười.

    Tối đó tôi ngủ lại nhà.

    Nằm trên chiếc giường từng ngủ từ nhỏ, nghe tiếng côn trùng ngoài cửa sổ, trong lòng an yên lạ thường.

    Dù bên ngoài giông bão thế nào, nhà vẫn luôn là nơi ấm áp nhất.

    Sáng hôm sau, tôi kéo vali ra sân bay.

    Tống Tư Vũ đến tiễn.

    “Đến nơi nhớ nhắn.”

    “Ừ.”

    “Có chuyện gì gọi điện ngay.”

    “Ừ.”

    “Đừng khóc, cậu đi gây dựng sự nghiệp, không phải chạy trốn.”

    Tôi cười:

    “Tớ không khóc.”

    “Mắt đỏ cả lên còn bảo không khóc.” Cô ấy ôm tôi,
    “Được rồi, đi đi, đến nơi liên lạc.”

    Tôi gật đầu, quay người đi vào cửa an ninh.

    Ngoảnh lại, Tống Tư Vũ vẫn đứng đó vẫy tay.

    Tôi cũng cười vẫy lại.

    Tạm biệt, thành phố này.

    Tạm biệt, những chuyện đã qua.

    Khi máy bay cất cánh, tôi nhìn mây ngoài cửa sổ.

    Đột nhiên nhớ lại cảnh trên chuyến bay hôm đó, khi thấy Trịnh Minh Viễn và Tôn Vũ Manh.

    Hình ảnh từng khiến tôi đau đến không chịu nổi.

    Giờ nghĩ lại, lại thấy buồn cười.

    Vì một người không đáng mà đau lòng lâu như vậy, có đáng không?

    Không đáng.

    Nhưng đời người là vậy.

    Phải trải qua rồi mới trưởng thành.

    Phải ngã đau rồi mới biết cách bước tiếp.

    Đến Thượng Hải, công ty cử xe đến đón.

    Tài xế là một chú hơn bốn mươi tuổi, rất nói chuyện.

    “Quản lý Lâm, lần đầu đến Thượng Hải à?”

    “Ừ, lần đầu.”

    “Vậy để tôi giới thiệu, bên này là Phố Đông, bên kia là Lục Gia Chủy…”

    Nghe ông ấy giới thiệu, tôi nhìn cảnh bên ngoài.

    Thượng Hải thật lớn, thật phồn hoa.

    Nhà cao tầng san sát, dòng người vội vã.

    Tôi bỗng có chút lo lắng.

    Một mình đến thành phố xa lạ bắt đầu lại, liệu có làm được không?

    Đến công ty, đồng nghiệp phòng nhân sự dẫn tôi làm thủ tục nhập chức, rồi đưa đến ký túc xá.

    Nhà công ty thuê nằm ở quận Tĩnh An, một phòng khách một phòng ngủ, đầy đủ nội thất.

    “Quản lý Lâm, nếu còn thiếu gì cứ nói với công ty, công ty sẽ bổ sung.”

    “Không cần, thế này là tốt rồi, cảm ơn.”

    Cô ấy cười:

    “Vậy chị dọn dẹp đi, mai chính thức đi làm.”

    “Được.”

    Sau khi cô ấy đi, tôi đóng cửa lại, nhìn căn nhà mới.

    Không lớn, nhưng ấm cúng.

    Tôi mở vali, treo từng bộ quần áo vào tủ, đặt đồ dùng cá nhân vào phòng tắm, để ảnh lên tủ đầu giường.

    Nhìn bức ảnh có bố mẹ, tôi mỉm cười.

    “Bố mẹ, con ở Thượng Hải rất ổn, đừng lo.”

    Dọn dẹp xong, tôi tắm rửa rồi nằm lên giường.

    Điện thoại reo, Tống Tư Vũ nhắn:

    “Đến nơi chưa?”

    “Đến rồi, đang ở ký túc xá.”

    “Thế nào? Quen chưa?”

    “Cũng ổn, chỉ là hơi nhớ nhà.”

    “Bình thường thôi, vài hôm là ổn. À, nói cậu chuyện này.”

    “Chuyện gì?”

    “Hôm nay Trịnh Minh Viễn tìm tớ.”

    Tôi sững lại:

    “Tìm cậu làm gì?”

    “Muốn nhờ tớ khuyên cậu quay lại.”

    Tôi cười lạnh:

    “Anh ta còn mặt mũi tìm cậu à?”

    “Anh ta nói biết sai rồi, muốn tái hôn.”

    “Tái hôn?” Tôi bật cười,
    “Anh ta nghĩ đẹp thật.”

    “Tớ cũng nói vậy. Tớ bảo anh ta, Lâm Hiểu Nam bây giờ sống rất tốt, đừng làm phiền cô ấy.”

    “Tư Vũ, cảm ơn cậu.”

    “Khách sáo gì, tớ sớm đã nhìn anh ta không vừa mắt. À đúng rồi, anh ta còn nói đã nghỉ việc, định sang thành phố khác phát triển.”

    “Không liên quan đến tôi nữa.”

    “Đúng, không liên quan đến cậu nữa. Cậu cứ phát triển tốt ở Thượng Hải, đừng nghĩ linh tinh.”

    “Ừ.”

    Đã nửa năm kể từ khi tôi đến Thượng Hải.

    Nửa năm này, tôi sống rất trọn vẹn.

    Trong công việc, tôi nâng thành tích chi nhánh lên ba mươi phần trăm, được trụ sở khen thưởng.

    Trong cuộc sống, tôi quen được rất nhiều bạn mới, cuối tuần cùng nhau đi chơi, ăn uống, cuộc sống thoải mái.

    Quan trọng nhất là, tôi học được cách yêu chính mình.

    Trước đây, tôi luôn đặt Trịnh Minh Viễn ở vị trí đầu tiên.

    Cảm xúc của anh ta là cảm xúc của tôi, nhu cầu của anh ta cũng là nhu cầu của tôi, sống đến mức biến mình thành phần phụ của anh ta.

    Bây giờ thì khác rồi.

    Tôi học cách quan tâm đến cảm xúc của chính mình, học cách đối xử tốt với bản thân.

    Cuối tuần đi phòng gym tập luyện, đến hiệu sách đọc sách, ngồi quán cà phê ngẩn ngơ.

    Cuộc sống một mình, cũng có thể rất thú vị.

    Một ngày nọ, Tống Tư Vũ đến Thượng Hải công tác.

    Chúng tôi hẹn ăn tối ở nhà hàng Tây.

    Vừa nhìn thấy tôi, cô ấy đã thốt lên:

    “Hiểu Nam, cậu gầy đi rồi! Cũng xinh hơn nữa!”

    Tôi cười:

    “Thật à? Có lẽ do tập luyện.”

    “Thật mà, cả người cậu như phát sáng.” Cô ấy nhìn tôi,
    “Xem ra rời xa Trịnh Minh Viễn là đúng.”

    Tôi gật đầu:

    “Ừ, bây giờ mới hiểu, phụ nữ không thể đặt toàn bộ hy vọng vào đàn ông. Dựa vào bản thân, mới là chắc chắn nhất.”

    Cô ấy giơ ngón cái:

    “Nói hay!”

    Ăn xong, chúng tôi đi dạo bên bến Thượng Hải.

    Nhìn cảnh đêm sông Hoàng Phố, gió sông thổi mát.

    Tống Tư Vũ hỏi:

    “Hiểu Nam, cậu còn muốn kết hôn không?”

    Tôi nghĩ một chút:

    “Tùy duyên thôi. Gặp được người phù hợp thì kết hôn, không gặp được thì thôi. Dù sao một mình cũng có thể sống rất tốt.”

    Cô ấy gật đầu:

    “Nghĩ được vậy là đúng. Phụ nữ không nhất thiết phải có đàn ông mới sống được.”

    Tôi cười:

    “Ừ, cuối cùng cũng hiểu rồi.”

    Cô ấy nhìn tôi:

    “Hiểu Nam, cậu thay đổi rất nhiều.”

    “Thật à?”

    “Ừ. Trước đây cậu lúc nào cũng dè dặt, sợ cái này sợ cái kia. Bây giờ thì tự tin, độc lập, có chính kiến.”

    Tôi nhìn mặt sông:

    “Có lẽ vì đã trải qua chuyện đó. Con người phải trải qua vấp ngã mới trưởng thành.”

    Cô ấy gật đầu:

    “Đúng vậy, những gì không đánh gục được cậu, cuối cùng sẽ khiến cậu mạnh mẽ hơn.”

    Tôi cười:

    “Tư Vũ, từ khi nào cậu trở nên triết lý vậy?”

    “Tớ vốn đã triết lý rồi, chỉ là cậu không nhận ra thôi.” Cô ấy bắt chước giọng mẹ tôi.

    Chúng tôi cùng bật cười.

    Tối đó tiễn Tống Tư Vũ về, tôi một mình đi trên phố Thượng Hải.

    Nhìn dòng người qua lại, nhìn ánh đèn của vạn nhà, trong lòng dâng lên một cảm xúc khó tả.

    Cảm ơn chính mình ngày hôm đó trên máy bay đã không sụp đổ.

    Cảm ơn chính mình đã dũng cảm đối diện sự thật.

    Cảm ơn chính mình đã chọn bắt đầu lại.

    Cuộc sống chưa bao giờ dễ dàng.

    Nhưng chỉ cần không bỏ cuộc, cuối cùng cũng sẽ gặp được phiên bản tốt hơn của chính mình.

    Điện thoại rung, mẹ nhắn tin:

    “Hiểu Nam, trời lạnh rồi, nhớ mặc thêm áo.”

    Tôi cười trả lời:

    “Con biết rồi mẹ, mẹ cũng vậy.”

    Đặt điện thoại xuống, tôi ngẩng đầu nhìn bầu trời.

    Sao rất sáng, trăng rất tròn.

    Mọi thứ đều rất tốt.

    Về nhà, tôi mở máy tính viết báo cáo công việc.

    Đột nhiên hiện lên một tin nhắn, Triệu Khải gửi:

    “Chị Hiểu Nam, Trịnh Minh Viễn kết hôn rồi.”

    Tôi sững lại:

    “Với ai?”

    “Một người mới quen, nghe nói quen qua mạng.”

    “Nhanh vậy sao?”

    “Ừ, cưới chớp nhoáng. Nghe nói người phụ nữ đó không ra sao, suốt ngày tiêu tiền của anh ta.”

    Tôi cười khổ:

    “Anh ta tự chọn, trách ai được.”

    “Ừ. Tôi chỉ nói với chị một tiếng. Chị giờ thế nào rồi?”

    “Rất tốt, công việc thuận lợi, cuộc sống đầy đủ.”

    “Vậy là tốt rồi. Chị Hiểu Nam, chị xứng đáng với điều tốt hơn.”

    “Cảm ơn anh, Triệu Khải.”

    Tôi tắt khung chat, nhìn màn hình.

    Trịnh Minh Viễn kết hôn rồi, nhanh vậy đã có người mới?

    Ha.

    Cũng tốt, như vậy anh ta sẽ không quay lại làm phiền tôi nữa.

    Tôi hít sâu, tiếp tục viết báo cáo.

    Quá khứ thì cứ để nó qua đi.

    Những ngày phía trước, còn rất dài.

    Chớp mắt đã một năm kể từ khi tôi đến Thượng Hải.

    Trụ sở công ty gửi thông báo, yêu cầu tôi về báo cáo công việc.

    Tôi đặt vé máy bay, bay về thành phố quen thuộc.

    Xuống máy bay, Tống Tư Vũ đến đón.

    “Chào mừng trở về!” Cô ấy ôm tôi.

    Tôi cười:

    “Nhớ tớ à?”

    “Nhớ chết đi được! Cậu không ở đây, không ai đi mua sắm với tớ.”

    “Giờ tớ về rồi đây.”

    Chúng tôi đến quán lẩu quen thuộc trước kia, gọi đầy một bàn.

    Tống Tư Vũ nhìn tôi:

    “Hiểu Nam, nói cậu nghe chuyện này.”

    “Chuyện gì?”

    “Trịnh Minh Viễn ly hôn rồi.”

    Tôi sững lại:

    “Lại ly hôn?”

    “Ừ. Người phụ nữ kia tiêu hết tiền của anh ta rồi bỏ đi.”

    Tôi cười nhạt:

    “Tự làm tự chịu.”

    “Còn gì nữa.” Cô ấy lắc đầu,
    “Bây giờ anh ta hối hận lắm, ngày nào cũng uống rượu, công việc cũng mất rồi.”

    Tôi không nói gì.

    “Cậu không thấy thương anh ta à?”

    “Thương?” Tôi lắc đầu,
    “Không nữa. Anh ta sống tốt hay không, không liên quan đến tôi.”

    Cô ấy gật đầu:

    “Nghĩ được vậy là đúng.”

    Ngày hôm sau tôi đến công ty báo cáo công việc.

    Chị Vương thấy tôi thì cười:

    “Hiểu Nam, em gầy đi rồi, cũng xinh hơn nữa.”

    Tôi cười:

    “Chị Vương vẫn khéo nói như trước.”

    “Chị nói thật.” Chị ấy nhìn tôi,
    “À đúng rồi, trụ sở rất hài lòng với em, dự định giữ em lại Thượng Hải, thăng chức làm quản lý khu vực.”

    Tôi sững lại:

    “Quản lý khu vực?”

    “Ừ. Phụ trách toàn bộ khu vực Hoa Đông. Lương gấp đôi, có xe có nhà.”

    Tôi đứng sững:

    “Thật hay đùa vậy?”

    “Đương nhiên là thật. Trụ sở rất coi trọng em, cho rằng em có năng lực, có quyết đoán, là nhân tài.”

    Hốc mắt tôi đỏ lên:

    “Chị Vương, cảm ơn chị.”

    “Cảm ơn gì, là em tự cố gắng.” Chị ấy vỗ vai tôi,
    “Cố gắng làm tốt, tương lai rất rộng mở.”

    Rời công ty,  tôi gọi điện cho bố mẹ:

    “Bố mẹ, con được thăng chức rồi!”

    “Thật à?” Giọng mẹ đầy vui mừng.

    “Thật, quản lý khu vực, phụ trách toàn bộ Hoa Đông.”

    “Quá tốt rồi! Con gái, con giỏi quá!” Bố kích động đến đổi cả giọng.

    “Đợi con rảnh sẽ về thăm bố mẹ.”

    “Không cần, con cứ bận việc của con, chúng ta đến thăm con.” Mẹ nói,
    “Đúng lúc chúng ta còn chưa đi Thượng Hải bao giờ.”

    “Được, bố mẹ đến con sẽ dẫn đi chơi thật vui.”

    Cúp điện thoại, tôi đứng giữa phố, nhìn dòng người qua lại.

    Trong lòng dâng lên cảm xúc khó tả.

    Một năm trước, tôi rời khỏi thành phố này với trái tim vỡ vụn.

    Một năm sau, tôi quay lại với đầy thành tựu.

    Những người từng coi thường tôi, những người từng cười nhạo tôi, giờ đều im lặng.

    Bởi vì tôi đã dùng thực lực chứng minh bản thân.

    Phụ nữ, không nhất thiết phải dựa vào đàn ông mới sống tốt.

    Dựa vào chính mình, vẫn có thể sống rực rỡ.

    Tôi trở lại Thượng Hải, bắt đầu công việc mới.

    Đội ngũ từ năm người ban đầu tăng lên hai mươi người.

    Công việc bận rộn hơn, áp lực lớn hơn.

    Nhưng tôi lại rất thích.

    Bởi vì cuối cùng tôi đã tìm thấy giá trị của mình.

    Không còn là vợ của ai, không còn là phụ thuộc của ai.

    Tôi là Lâm Hiểu Nam.

    Một người phụ nữ độc lập, tự tin, mạnh mẽ.

    Một ngày nọ, công ty có nhân viên mới.

    Tên là Phương Viễn, ba mươi lăm tuổi, du học về, ngoại hình khá điển trai.

    Là giám đốc kỹ thuật do trụ sở điều xuống, cấp bậc ngang tôi.

    Lần đầu gặp mặt, anh ta đưa tay:

    “Xin chào, quản lý Lâm, ngưỡng mộ đã lâu.”

    Tôi cười:

    “Xin chào, giám đốc Phương, hoan nghênh anh gia nhập.”

    Anh ta nhìn tôi:

    “Quản lý Lâm, tôi nghe nói cô rất giỏi, đã nâng thành tích khu Hoa Đông lên năm mươi phần trăm.”

    “Chỉ là may mắn thôi.”

    “May mắn cũng là một phần của thực lực.”

    Chúng tôi nhìn nhau một cái, rồi cùng cười.

    Những ngày sau đó, chúng tôi thường xuyên cùng họp, cùng ăn, cùng tăng ca.

    Anh ấy đối với tôi rất tốt.

    Biết tôi tăng ca sẽ mang cơm đến, biết tôi cảm lạnh sẽ mua thuốc, biết tôi tâm trạng không tốt sẽ ngồi nói chuyện cùng tôi.

    Tống Tư Vũ đến Thượng Hải thăm tôi, nhìn thấy Phương Viễn, liền lén hỏi:

    “Người đàn ông kia là ai vậy? Đối xử với cậu tốt quá mức rồi đấy?”

    “Đồng nghiệp.”

    “Đồng nghiệp? Cậu lừa ai vậy? Tớ thấy anh ta có ý với cậu.”

    Tôi đỏ mặt:

    “Đừng nói bậy.”

    “Tớ nói bậy? Cậu nhìn ánh mắt anh ta nhìn cậu đi, sắp nuốt chửng cậu luôn rồi.”

    Tôi cười:

    “Làm gì có.”

    “Không tin thì thử xem, nói mình độc thân, xem phản ứng của anh ta thế nào.”

    Tôi chưa thử.

    Nhưng Phương Viễn tự nói ra rồi.

    Có một hôm tăng ca rất muộn, anh ấy đưa tôi về.

    Dưới lầu, anh đột nhiên dừng lại:

    “Hiểu Nam, tôi có chuyện muốn nói với cô.”

    “Chuyện gì?”

    “Tôi thích cô.”

    Tôi sững lại:

    “Anh…”

    “Tôi biết cô có thể thấy hơi nhanh, nhưng tôi thật sự thích cô.” Anh nhìn tôi,
    “Ngay từ lần đầu gặp, tôi đã bị cô thu hút. Cô tự tin, độc lập, có chính kiến, là kiểu người tôi thích.”

    Tôi nhìn anh, tim đập rất nhanh.

    “Phương Viễn, tôi…”

    “Cô đừng vội trả lời,  tôi cho cô thời gian suy nghĩ.” Anh cười,
    “Bao lâu cũng được, tôi đợi.”

    Nói xong anh quay người rời đi.

    Tôi đứng tại chỗ nhìn bóng lưng anh.

    Trong lòng không nói rõ được cảm giác gì.

    Phương Viễn.

    Một người đàn ông dịu dàng, chu đáo, ưu tú.

    Anh ấy thật sự thích  tôi?

    Hay chỉ là nhất thời bốc đồng?

    Tôi không biết.

    Nhưng tôi biết, tôi không bài xích anh.

    Thậm chí, có chút rung động.

    37

    Tối đó tôi gọi điện cho Tống Tư Vũ:

    “Tư Vũ, Phương Viễn tỏ tình với tớ rồi.”

    “Tớ đã nói mà! Anh ta chắc chắn có ý với cậu!” Cô ấy kích động,
    “Còn cậu? Nghĩ sao?”

    “Tớ không biết.”

    “Không biết cái gì? Cậu có thích anh ta không?”

    Tôi nghĩ một chút:

    “Có một chút.”

    “Thế thì xong rồi! Thích thì ở bên nhau đi!”

    “Nhưng tớ… tớ sợ.”

    “Sợ cái gì?”

    “Sợ lại bị tổn thương.”

    Tống Tư Vũ im lặng vài giây:

    “Hiểu Nam, cậu không thể vì một lần thất bại mà phủ định tất cả. Trịnh Minh Viễn là Trịnh Minh Viễn, Phương Viễn là Phương Viễn, họ không giống nhau.”

    “Tớ biết, nhưng tớ vẫn sợ.”

    “Sợ thì cứ từ từ, không cần vội. Cậu cứ ở bên anh ta một thời gian, xem anh ta có thật lòng không. Nếu thật lòng thì thử, không thì thôi.”

    Tôi gật đầu:

    “Được.”

    Những ngày sau đó, tôi và Phương Viễn ngày càng gần gũi hơn.

    Cùng ăn cơm, xem phim, đi dạo.

    Anh ấy đối với tôi rất tốt, rất kiên nhẫn, chưa bao giờ thúc ép tôi.

    Có một lần, anh đưa tôi đi xem bình minh.

    Chúng tôi đứng bên bờ sông Hoàng Phố, nhìn mặt trời từ từ mọc lên.

    Anh đột nhiên nói:

    “Hiểu Nam, tôi biết cô từng bị tổn thương, cũng biết cô sợ. Nhưng tôi có thể đợi. Đợi đến khi cô sẵn sàng, chúng ta mới ở bên nhau.”

    Tôi nhìn anh, nước mắt rơi xuống.

    “Phương Viễn, cảm ơn anh.”

    Anh cười, đưa tay lau nước mắt cho tôi:

    “Không cần cảm ơn, đây là điều tôi nên làm.”

    Khoảnh khắc đó, tôi đột nhiên cảm thấy…

    Có lẽ, tôi có thể thử lại một lần nữa.

    Không phải vì ai khác.

    Mà là vì chính mình.

    Nửa năm sau, tôi và Phương Viễn chính thức ở bên nhau.

    Anh ấy đối với tôi rất tốt.

    Tốt hơn Trịnh Minh Viễn gấp trăm lần.

    Anh nhớ sinh nhật tôi, nhớ ngày kỷ niệm của chúng tôi, lúc tôi ốm sẽ ở bên cạnh chăm sóc.

    Quan trọng nhất là, anh tôn trọng tôi, ủng hộ tôi, khích lệ tôi.

    Không bao giờ can thiệp công việc của tôi, cũng không bao giờ nghi ngờ quyết định của tôi.

    Tống Tư Vũ đến Thượng Hải thăm chúng tôi, thấy Phương Viễn đối xử với tôi như vậy, liền lén nói:

    “Hiểu Nam, lần này cậu chọn đúng người rồi.”

    Tôi cười:

    “Ừ, tớ cũng nghĩ vậy.”

    “Vậy khi nào hai người kết hôn?”

    “Không vội, cứ ở bên nhau đã.”

    “Cậu không sợ anh ta chạy mất à?”

    “Sợ gì? Người chạy mất thì vốn không thuộc về tớ.”

    Tống Tư Vũ giơ ngón cái:

    “Lâm Hiểu Nam, cậu thật sự thay đổi rồi.”

    Tôi cười:

    “Ừ, tớ đã trở nên tốt hơn.”

    Hiện tại, tôi sự nghiệp thành công, tình yêu ngọt ngào, cuộc sống trọn vẹn.

    Thỉnh thoảng nhớ đến Trịnh Minh Viễn, trong lòng không còn hận, cũng không còn oán.

    Chỉ còn lại sự cảm kích.

    Cảm kích anh ta đã khiến tôi nhìn rõ bản chất của cuộc sống.

    Cảm kích anh ta đã khiến tôi học được cách độc lập.

    Cảm kích anh ta đã giúp tôi gặp được phiên bản tốt hơn của chính mình.

    Phụ nữ nhất định phải nhớ:

    Đừng đặt toàn bộ hy vọng vào đàn ông.

    Dựa núi thì núi sụp, dựa người thì người đi.

    Chỉ có dựa vào bản thân, mới là vững vàng nhất.

    Những thứ không đánh gục được bạn, cuối cùng sẽ khiến bạn mạnh mẽ hơn.

    Những chuyện từng khiến bạn khóc, rồi sẽ có một ngày bạn mỉm cười kể lại.

    Đó chính là cuộc sống.

    Đó chính là trưởng thành.

    -HẾT-

  • Thuê một ngọn núi nuôi 30 con lợn rồi bỏ quên 5 năm

    Thuê một ngọn núi nuôi 30 con lợn rồi bỏ quên 5 năm

    Thuê một ngọn núi nuôi 30 con lợn rồi bỏ quên 5 năm – Một ngày nọ ông b/ất n/gờ trở lại, liền s/ững s/ờ trước cảnh tượng…

    Năm 2018, Lâm – một người đàn ông ngoài ba mươi tuổi ở vùng trung du – từng nuôi hy vọng đổi đời bằng việc thuê một quả đồi hoang để làm trang trại. Anh v/ét s/ạch vốn liếng, v//ay thêm ng/ân hà/ng để dựng chuồng, khoan giếng, rồi đưa lên đó 30 con lợn giống.

    “Em chờ anh. Chỉ cần một năm thôi, mình sẽ có tiền xây nhà mới.”

    Nhưng đời không dễ như những trang sá//ch d/ạy là/m già/u.

    Chưa đầy ba tháng sau, dị//ch t/ả lợ/n châu Phi bù/ng ph/át. Những trại lợn quanh vùng đ/ổ bệ/nh hàng loạt, người ta đ/ốt chuồng suốt cả tuần liền, khói đen phủ kín cả triền đồi. Vợ anh – chị Hà – hoả/ng s//ợ giục Lâm b/án tháo đàn l/ợn còn khỏe để gỡ vốn. Nhưng Lâm nhất quyết giữ, hy vọng dị/ch sẽ sớm qua.

    Rồi chính anh cũng đ/ổ bệ//nh vì ki/ệt sứ/c, phải về quê ngoại dưỡng hơn tháng. Khi quay lại, đàn lợn đã hao hụt. Giá thức ăn đội lên gấp đôi, ng/ân hà/ng thúc ép tr/ả l//ãi. Những đêm nằm nghe tiếng mưa quất ràn rạt trên mái tôn, Lâm cảm giác mọi thứ đang sụ/p đ/ổ.

    Cho đến một buổi tối, sau khi nhận cuộc gọi của ch/ủ n/ợ, anh ngồi phịch xuống sàn và buông một câu:

    Ngày hôm sau, Lâm khóa cửa chuồng lại, gửi lại chìa khóa cho chủ đồi rồi rời khỏi đó. Anh không đành lòng nhìn đàn lợn ch/ết d/ần, nhưng cũng không còn khả năng cứ/u vã/n. Chuyện trang trại xem như ph//á s//ản.

    Suốt 5 năm, Lâm không đặt chân trở lại ngọn núi ấy.

    Anh và vợ chuyển xuống thành phố làm công nhân. Cuộc sống ngh//èo nhưng bình lặng hơn. Mỗi khi nghe ai nhắc đến chăn nuôi, Lâm chỉ cười buồn:

    Thế rồi đầu năm nay, chủ quả đồi – ông Thìn – b/ất n/gờ gọi cho anh. Giọng ông ru/n ru/n:

    “Cậu lên đây đi. Cái trang trại năm xưa… có chuyện lớn rồi.”

    Sáng hôm đó, Lâm chạy xe máy hơn 40 cây số lên núi. Con đường đất đỏ ngày xưa nay bị cây cối bao phủ, rậm rạp như bỏ hoang cả chục năm. Anh vừa đi vừa h/oang ma/ng: liệu chỉ còn lại đống gỗ nát không? Hay là chuồng đã sập?

    Đến khi vòng qua con dốc cuối cùng, Lâm khựng lại.

    Khu trang trại trước mắt anh… trông như một cánh rừng nguyên sinh đầy bí ẩn, nhưng không hề hoang tàn như anh tưởng tượng.

    Thay vì đống gạch vụn và mái tôn hoen gỉ của một thời phá sản, trước mắt Lâm là một thung lũng xanh mướt, trù phú đến nghẹt thở. Cây cối lớn nhanh như thổi, phủ kín những mảng đất trống ngày xưa. Nhưng điều khiến Lâm đứng chết trân, tay lái chiếc xe máy run lên bần bật, không phải là cảnh sắc thiên nhiên — mà là tiếng động.

    Một âm thanh rền rĩ, vang động cả một góc rừng: tiếng ủ ỉ, tiếng ỉ ôi, tiếng bước chân rầm rộ gõ xuống nền đất nén, và tiếng cành cây gãy “rắc rắc” liên hồi.

    Màn tái xuất của “Binh đoàn hoang dã”

    Từ trong vạt rừng chuối rừng và cỏ voi rậm rạp, một con lợn đực khổng lồ bước ra.

    Nó to lớn như một con bò tót nhỏ, da đen sẫm, dày cộp và chằng chịt những vết sẹo. Trên lưng nó là lớp lông gai dựng đứng, hai chiếc răng nanh dài nhọn gợn sóng nhô ra khỏi mép méo xệch, tỏa ra khí chất của một “chúa tể vùng đồi”. Nó dừng lại cách Lâm chừng hai mươi mét, đôi mắt ti hí đỏ ngầu nhìn xoáy vào anh, cất tiếng hừ hừ đe dọa.

    Ngay sau lưng nó, không phải một hay hai con, mà là cả một đàn lợn đông đúc đến mức không thể đếm nổi. Chúng chen chúc nhau bước ra từ cối rậm. Có những con lợn nái to kềnh càng, vú căng tròn sữa, đi theo sau là từng hàng lợn con lắt chắt, lông sọc vằn như lợn rừng chính hiệu. Có những con lợn lứa lưng võng, nhanh nhẹn nhảy chồm chồm qua các hốc đá.

    Lâm chết đứng. Tim anh đập liên hồi như muốn văng ra khỏi lồng ngực. Ông Thìn từ trong một căn lán nhỏ gần đó lúp súp chạy ra, tay cầm chiếc gậy gỗ lớn, giọng hổn hển:

    – Lâm! Mày đứng yên đấy! Đừng động đậy! Con “Đại Tướng” đó là con đầu đàn, nó hung dữ lắm!

    phải mất đến mười phút hú gọi và gõ thanh sắt liên hồi vào thùng phi, ông Thìn mới xua đuổi được đàn lợn rút lui dần vào sâu trong vạt đồi chuối.

    Khi ngọn đồi trở lại vẻ tĩnh lặng tương đối, Lâm mới khuỵu gối xuống cỏ, thở không ra hơi. Anh ngước nhìn ông Thìn, môi run rẩy không thốt nên lời.

    – Ông… ông Thìn… Đây là… đây là cái gì thế này? Đàn lợn 30 con năm xưa của cháu… chúng nó chưa chết sao?

    Ông Thìn lắc đầu, vừa cười vừa thở dài cay đắng:

    – Chết làm sao được! Mày bỏ đi, khóa cửa chuồng lại, nhưng cái giếng khoan năm đó mày bỏ quên không tắt cầu giao tự động, nước tràn ra tạo thành cái đầm nhỏ. Rồi giông bão làm sập một mảng tường chuồng gỗ, chúng nó sổ lồng ra ngoài. Năm đó dịch bệnh quét qua, nhưng kỳ lạ thay, cái giống lợn mày mua là lợn lai rừng gốc, sức đề kháng khỏe. Những con yếu thì chết, nhưng những con sống sót lại tự nghiền nẫng, ăn củ chuối, ăn Cỏ Mật, ăn giun đất mà sống!

    Ông Thìn hạ giọng, mắt sáng lên một cách kỳ lạ:

    – Năm năm qua, không ai chăn thả, không ai tiêm phòng, không ai cho ăn cám tăng trọng. Chúng nó tự giao phối, tự sinh nở, tự chiến đấu với thú dữ trên núi này. Mày biết bây giờ trên ngọn núi này có bao nhiêu con không? Không dưới 300 con! Toàn là lợn rừng F2, F3 thuần hóa tự nhiên!

    Phép màu của thiên nhiên và cái giá của sự buông bỏ

    Lâm nhìn trối kệ vào khoảng rừng xót xa vừa rồi.

    Năm xưa, anh phá sản vì quá phụ thuộc vào cám công nghiệp, vì ôm khang khang quy trình chăn nuôi nhân tạo tù túng trong bốn bức tường gạch. Anh thua vì dịch bệnh, vì nợ nần, và vì chính sự kiệt sức của bản thân. Nhưng khi anh bỏ đi, thả chúng về với thiên nhiên, ngọn núi này – thứ mà anh từng cay đắng gọi là “nơi đốt tiền” – lại mở lòng ôm lấy đàn lợn, dùng cỏ cây, khoáng chất và sự sinh tồn khắc nghiệt để nuôi dưỡng chúng thành một “báu vật”.

    Ông Thìn dẫn Lâm đi sâu vào trong đồi. Hệ sinh thái ở đây đã hoàn toàn thay đổi. Phân lợn thải ra suốt 5 năm qua biến thành nguồn phân bón hữu cơ khổng lồ, làm cho đất đai màu mỡ. Những mảng đồi hoang năm xưa giờ phủ kín rừng tràm, rừng chuối và cỏ tự nhiên. Đàn lợn đã tự đào các ao bùn để tắm, tự tạo ra đường đi riêng quanh triền núi.

    – Dạo gần đây, vài người đi săn và dân đi hái nấm phát hiện ra đàn lợn này. – Ông Thìn nói, giọng nghiêm trọng. – Họ bắt đầu vây bắt chui. Tuần trước, có mấy tay buôn dưới thành phố lên trả tao 500 triệu để mua đứt cả ngọn đồi này hòng săn bắt sạch đàn lợn. Nhưng tao nhớ tới mày. Đất là tao cho thuê, nhưng cái gốc của đàn lợn này là mồ hôi, nước mắt và tiền nợ của vợ chồng mày. Tao gọi mày lên để mày tự quyết định!

    Lâm đứng ngơ ngác giữa rừng. 500 triệu! Số tiền ấy đủ để anh trả sạch nợ nần ngân hàng năm xưa, đủ để hai vợ chồng nghỉ làm công nhân cày quật dưới nhà máy nóng bức, quay về cất một căn nhà đàng hoàng ở quê.

    Nhưng khi nhìn thấy con lợn đầu đàn – con “Đại Tướng” – từ xa đang gầm ghè bảo vệ đàn lợn con mới nở, nhìn lớp da rắn rỏi và sức sống mãnh liệt của chúng, tim Lâm lại nhói lên một cảm xúc khác.

    Đây không còn là đàn lợn thương phẩm nuôi trong chuồng chật hẹp năm nào. Đây là một kỳ tích của sự sống. Nếu bán đứt cho thương lái, họ sẽ dùng súng điện, dùng bẫy rãnh, xẻ thịt sạch sẽ đàn lợn này trong vòng vài tuần để phục vụ cho các nhà hàng đặc sản. Toàn bộ sự kỳ diệu 5 năm qua sẽ biến thành đống thịt trên bàn nhậu.

    Quyết định đổi đời: Trở lại từ cõi chết

    Lâm bắt xe quay về thành phố ngay trong đêm. Anh kể lại toàn bộ câu chuyện cho vợ nghe. Chị Hà nghe xong thì ngơ ngác, tưởng chồng mình bị kiệt sức sinh ra hoang tưởng. Nhưng khi Lâm đưa ra những đoạn video quay bằng điện thoại, chị lặng đi, giọt nước mắt lăn dài trên má.

    – Anh tính sao? – Chị Hà khẽ hỏi, tay nắm chặt bàn tay chai sần của chồng. – Bán đi lấy tiền trả nợ, mình thong thả sống… hay là…

    – Anh muốn quay lại, Hà ạ. – Lâm nhìn thẳng vào mắt vợ, ánh mắt sáng rực sự quyết tâm mà 5 năm qua chị chưa từng thấy lại ở anh. – Ngày xưa anh thua vì anh tham lam, anh ép tự nhiên theo ý mình. Bây giờ tự nhiên đã cho anh một cơ hội thứ hai. Đàn lợn đó đã tự cứu sống chính nó, bây giờ đến lượt anh phải bảo vệ và phát triển nó đúng cách!

    Hai vợ chồng rút toàn bộ số tiền tiết kiệm 5 năm làm công nhân, vay mượn thêm anh em bạn bè thân thiết được một khoản vốn nhỏ. Họ quay lại ngọn núi.

    Lần này, Lâm không dựng chuồng trại bê tông khóa kín nữa. Anh thương lượng với ông Thìn gia hạn hợp đồng thuê đồi thêm 20 năm. Anh khoanh vùng bảo vệ ngọn đồi bằng rào lưới B40 thân thiện, lắp đặt hệ thống camera an ninh chạy bằng năng lượng mặt trời để chống trộm.

    Thay vì chăn nuôi công nghiệp, Lâm chọn mô hình “Trang trại bán hoang dã sinh thái”.

    Anh không cho lợn ăn cám công nghiệp. Hằng ngày, anh chỉ trồng thêm chuối rừng, ngô, khoai và cỏ voi quanh các triền đồi để bổ sung thức ăn cho chúng vào mùa khô. Anh để đàn lợn hoàn toàn tự do sinh hoạt, vận động trên diện tích hàng chục héc-ta.

    Tin tức về “Đàn lợn hoang dã 5 năm tự sinh tồn trên núi” bắt đầu lan truyền. Báo chí địa phương rồi truyền thông quốc gia tìm đến đưa tin. Người ta kinh ngạc trước câu chuyện hy hữu này.

    Giới khoa học chăn nuôi đến nghiên cứu và kết luận: Nhờ sống hoàn toàn tự nhiên và trải qua quá trình đào thải tự nhiên khắc nghiệt, đàn lợn của Lâm sở hữu hệ miễn dịch cực kỳ mạnh mẽ, thịt của chúng thơm ngon, săn chắc và không hề có dư lượng chất hóa học – một loại “thịt lợn hữu cơ siêu sạch” hiếm có trên thị trường.

    Quả ngọt sau những đắng cay

    Một năm sau ngày trở lại, Lâm bắt đầu thu hoạch lứa lợn đầu tiên. Nhưng anh không bán đại trà. Anh chỉ chọn lọc những con lợn đực đã trưởng thành, dư thừa trong đàn để xuất bán cho các hệ thống thực phẩm sạch cao cấp với giá đắt gấp 4-5 lần thịt lợn thường.

    Đơn hàng đổ về dồn dập. Các nhà hàng lớn đặt trước cả năm trời.

    Lâm dùng số tiền thu được để trả sạch nợ cũ, nâng cấp trang trại, đồng thời thuê chính những người dân nghèo trong vùng vào làm công nhân: dọn dẹp rừng, trồng thêm cây thức ăn và túc trực bảo vệ đồi.

    Ngọn núi từng bị coi là nơi “đốt tiền” ngày nào giờ đây trở thành một trang trại sinh thái nổi tiếng, xanh tươi và tràn đầy sức sống.

    Một buổi chiều thu, Lâm cùng vợ đứng trên đỉnh dốc cao nhất của quả đồi. Phía dưới thung lũng, ánh nắng vàng ươm rọi xuống vạt rừng chuối. Đàn lợn hàng trăm con đang thong dong ủ ỉ dắt nhau về bờ ao uống nước. Con “Đại Tướng” năm nào giờ đã già hơn, lưng hằn thêm vài vết sẹo, nhưng vẫn uy nghi đứng trên mỏm đá cao nhất canh giữ cho cả đàn.

    Gió núi thổi lồng lộng, mang theo mùi thơm của đất ẩm, của cỏ cây và mùi vị của tự do. Chị Hà tựa đầu vào vai chồng, khẽ mỉm cười:

    – Anh thấy không? Có những thứ mình tưởng là đã mất đi hoàn toàn, hóa ra thiên nhiên chỉ đang giữ hộ mình thôi.

    Lâm nắm chặt tay vợ, ánh mắt nhìn về phía chân trời xa xăm. Anh hiểu rằng, ngọn núi này không chỉ trả lại cho anh tài sản, mà quan trọng hơn, nó đã dạy cho anh bài học lớn nhất của cuộc đời: Khi con người biết tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên, ngay cả trong những kiệt cùng của thất bại, sự sống vẫn sẽ luôn tự tìm thấy lối đi.