Blog

  • 6 dấu hiệu khi “â;n á;i” chứng tỏ chồng đã có b;ồ, vợ không cần phải đoán già đoán non gì nữa

    Có “em gáι” bên ngσàι là bí mật tầy đình mà ngườι đàn ông nàσ cũng gιấu chσ bằng được thì thôι. Chính vì vậy, muốn bιết được chân tướng sự vιệc, ngườι vợ không còn cách nàσ khác là phảι tự mình “xông phα” tìm hιểu.

    Đừng dạι mà theσ dõι chồng, cũng đừng tốn sức kιểm trα đιện thσạι củα αnh ấy cả ngày làm gì…Có một cách đơn gιản mà mαng tớι kết quả nhαnh hơn, đó chính là nhìn những bιểu hιện củα chàng khι ở trên gιường. Một ngườι đàn ông chung thủy vớι vợ sẽ không bασ gιờ cùng lúc có những bιểu hιện này khι ân áι!

    Im lặng…

    Chàng không thoải mái nói chuyện trước, trong và sau khi gần gũi là một tín hiệu không tốt chút nào. Điều đó cho thấy, chàng dường như chỉ “yêu” để hoàn thành trách nhiệm mà chẳng có chút cảm xúc gì với vợ. Hơn nữa, đó cũng có thể là cách để anh ấy từ chối “trả bài” vì đã mất quá nhiều sức cho người thứ 3 rồi!

    Người đàn ông chung thủy tuyệt đối không có thói quen này. Anh ấy có thể mệt mỏi, kiệm lời nhưng sẽ luôn biết cách an ủi vợ, giúp cho bạn cảm thấy yên tâm hoặc ít nhất là có 1 lời hẹn ước “nồng nàn vào hôm sau”.

    Không muốn dọn dẹp “chiến trường”

    Chính vì bản thân không hào hứng nên đàn ông sẽ mặc kệ bạn xoay sở với tất cả mọi thứ. Nếu đã lâu rồi chàng không giúp bạn dọn dẹp giường nệm, quần áo bừa bãi sau khi “hành sự” (như hồi 2 người mới cưới nhau) thì nó cũng đồng nghĩa với thông điệp là anh ấy không thích chuyện “yêu” của 2 người.

    Đàn ông có thể mệt mỏi, phong độ thất thường nhưng luôn luôn thiện chí với việc gần gũi bạn đời. Một khi anh ấy tỏ ra chán nản đến mức bỏ mặc tất cả thì khả năng “được thỏa mãn” ở đâu đó là rất cao. Anh ấy vốn không còn yêu vợ nữa rồi!


    Không bao giờ có “hiệp 2”

    Tất nhiên rồi! Khi đã có bồ, việc san sẻ sức lực là không hề đơn giản với đàn ông. Nếu chàng đã dành mọi tâm huyết cho kẻ thứ 3 thì những gì với vợ chỉ là trách nhiệm cho bạn khỏi nghi ngờ mà thôi. Chính vì thế, sau “hiệp 1”, anh ấy không tiếp tục gần gũi, âu yếm bạn, tỏ ra mệt mỏi, đi tắm ngay hoặc đi ra ngoài hút thuốc… chứ không bao giờ nghĩ tới chuyện “thêm 1 lần nữa”.

    Lảng tránh những câu hỏi

    Sau khi “hành sự” vợ thường hỏi những câu xem chồng có hài lòng về những gì đã diễn ra hay không. Đó là những giây phút thân mật hạnh phúc của 2 vợ chồng. Trong khi người đàn ông chung thủy rất tôn trọng cảm xúc này thì chàng trai trăng hoa chỉ muốn nó qua đi thật nhanh, chàng có thể tỏ ra khó chịu hoặc “gạt phắt” đi những lời bạn nói, chỉ muốn 2 người nhanh chóng ai về chỗ nấy để ngủ cho yên thân.

    Bỏ qua màn dạo đầu

    Ngay cả khi bạn có những tín hiệu muốn được mơn trớn thêm, chàng vẫn thường bỏ qua màn dạo đầu hoặc chỉ sơ sài để nhanh về đích. Điều đó cũng hoàn toàn dễ hiểu khi anh ấy không còn xem đây là 1 cuộc “ân ái” ngọt ngào mà chỉ là việc “phải làm cho xong” mà thôi. (Cái này khác với việc chồng muốn “tấn công” vợ một cách táo bạo nhé, một cái là nhanh cho xong, còn 1 cái là nhanh để tạo cảm giác).

    Chàng ngại thử cái mới

    Nếu người ấy bắt đầu có những động tác mà bạn chưa từng thấy anh ấy thực hiện trước đây, thì đó chính là dấu hiệu anh ấy muốn làm bạn vui lòng hơn, giúp chuyện “yêu” của 2 người mới mẻ và thăng hoa hơn.

    Ngược lại, bản thân chàng không muốn thay đổi gì về thói quen giường chiếu của 2 vợ chồng và đồng thời cũng không hứng thú với những sáng tạo của bạn. Điều đó gửi đi 1 suy nghĩ của chàng rằng, chuyện ấy của 2 người chẳng có gì thú vị đâu, dù có cố gắng thay đổi thế nào cũng chỉ vậy thôi. Rất có thể chàng đã gửi gắm niềm tin ở một chỗ khác rồi!

    Tuy nhiên, các mẹ cần nhớ, cuộc sống hôn nhân khó tránh khỏi những lúc thăng trầm. Chàng hờ hững chuyện giường chiếu có thể là do nhiều nguyên nhân khác nhau chứ không phải là không yêu vợ và không chung thủy nữa. Khi đó, người vợ hãy bình tĩnh trò chuyện với chồng để tìm ra lí do, cùng nhau giải quyết để tìm lại hạnh phúc nhé!

    http://www.khoevadep.com.vn/6-dau-hieu-khi-yeu-chung-to-chong-da-chan-vo-tham-chi-co-bo-vo-chang-can-doan-gia-doan-non-d309681.html

  • 3 kiểu hàng xóm chớ dại lại gần thân thiết: Đặc biệt kiểu thứ nhất, dễ ly tan, lụi bại

    Người thích đâm bị thóc chọc bị gạo

    Người xưa thường nói rằng bán anh em xa mua láng giếng gần. Nhưng trên thực tế không phải người hàng xóm nào cũng tốt như vậy. Trong cuộc sống có rất nhiều kiểu hàng xóm thường ngày không nói làm gì, nhưng có những người hàng xóm, trước mặt người này là một chuyện, sau lưng họ lại là một phiên bản khác.

    Trước mặt người ta toàn nói lời hay ý tốt, sau lưng người ta lại đâm bị thóc, chọc bị gạo, nói xấu người ta đủ điều. Những kiểu người này vô cùng nguy hiểm mang tới cho bạn nhiều áp lực trong cuộc sống.

    Kiểu hàng xóm này rất đáng sợ, bởi đó là một dạng biểu hiện của người thiếu đạo đức, nội dung chủ đề của họ đã vượt ra khỏi phạm vi câu chuyện gia đình thường ngày. Gặp kiểu hàng xóm thế này, chúng ta vẫn nên hạn chế tiếp xúc thì hơn.

    Kiểu hàng xóm nên tránh xa

    Kiểu hàng xóm nên tránh xa

    Kiểu người lả lơi thích đứng núi này trông núi nọ

    Khám phá thêm

    sức khỏe

    Thời gian & Lịch

    Khám phá

    Về nhân tướng học người này thường có ánh mắt không trung thực môi mỏng, khi nói mắt luôn đảo đi đảo lại không nhìn cố định vào một chỗ nào cả. Những người này tâm tính không vững luôn thích những thứ của người khác. Kiểu người phụ nữ này thích làm tiểu tam nên nếu như trong nhà có người tốt thì đừng bao giờ khoe ra kẻo họ sẽ tìm cách quyến rũ.

    Đặc biệt, trong cuộc sống những kiểu hàng xóm này thường rất thích lợi dụng người khác chỉ thích quan hệ với người có lợi cho mình. Ngược lại với những người không có lới cho họ thì họ sẽ không thích kết giao. Kiểu hàng xóm này nếu như quá thân thiết thì người thiệt thòi chính là bạn.

    Kiểu hàng xóm không nên kết giao thân thiết

    Kiểu hàng xóm không nên kết giao thân thiết

    Người răng quặp vào, ích kỷ và keo kiệt

    Trong nhân tướng học người này có hàm răng khá khít mọc chặt vào nhau không có khe hở. Đặc biệt nếu rằng hướng vào trong thì tính tình càng khó đoán. Mặc dù trong cuộc sống giữa hàng xóm với nhau, khó tránh khỏi sẽ phát sinh những xích mích, hiểu lầm. Người bình thường có lẽ qua một thời gian sẽ quên đi, hai gia đình lại hòa hợp như ngày đầu.

    Nhưng nếu là hàng xóm nhỏ mọn hẹp hòi, thì dù chuyện xích mích ấy có trôi qua cả tỷ năm, trong lòng họ kí ức vẫn còn mới mẻ như ngày đầu, sẽ trở thành nối oán hận cất giấu dưới đáy lòng họ.

    Kiểu người này luôn thích bắt lỗi của những người khác, khiến cho mối quan hệ hàng xóm ngày càng trở nên bế tắc. Cuối cùng hai bên chỉ có thể trở thành người lạ từng quen. Khi sống bên cạnh những kiểu hàng xóm này bạn sẽ vô cùng mệt mỏi cuộc .

    *Thông tin chỉ mang tính tham khảo, chiêm

  • Công thức tiêu diệt tế bào ung thư trong 42 ngày

    BPO – Rudolf Breuss đã dành cả cuộc đời để tìm cách chữa bệnh ung thư và cuối cùng vị nhân sĩ người Áo này đã thành công.

    Biện pháp của Rudolf Breussnằm ở chế độ ăn hằng ngày. Chỉ với một ly nước ép hỗn hợp dễ làm, ông đã giúp hơn 45.000 người bị ung thư và các bệnh nan y khác điều trị bệnh hiệu quả. Sau đây là cách tiêu diệt triệt để tế bào ung thư chỉ trong 42 ngày mà Thuốc dân gian hay tổng hợp lại.

    Te bao ung thu bi tieu diet trong 42 ngay bang ly nuoc ep da thanh cong ngoai mong doi - Anh 1

    Chuẩn bị:

    + Củ cải đường hay còn gọi là củ dền (55%): 550 gram

    + Cà rốt (20%): 200 gram

    + Cần tây (20%): 200 gram

    + Khoai tây (3%): 3 gram

    + Củ cải trắng (2%): 2 gram

    Thực hiện:

    + Gọt vỏ, rửa sạch và cho vào máy xay sinh tố.

    + Cho đến khi tất cả đã được xay nhuyễn thành một hỗn hợp đồng nhất thì đổ ra ly và thưởng thức.

    + Uống hết một đợt thì tiếp tục làm một đợt mới khác.

    Te bao ung thu bi tieu diet trong 42 ngay bang ly nuoc ep da thanh cong ngoai mong doi - Anh 2

    Hiệu quả thu được:

    + Ly nước trái cây đặc biệt này sẽ tăng cường hệ thống miễn dịch, làm sạch máu và cung cấp năng lượng cần thiết cho cơ thể. Điều quan trọng nhất hơn cả là nó đã được chứng minh có hiệu quả cực cao trong cuộc chiến chống lại các tế bào ung thư.

    + Chế độ chỉ uống hỗn hợp 5 thành phần trên liên tục trong 42 ngày sẽ khiến các tế bào ung thư chết đói trong khi sức khỏe tổng thể của bạn lại được cải thiện triệt để.

    Ghi chú:

    + Nguyên liệu sử dụng phải là rau quả hữu cơ không nhiễm hóa chất.

    + Nhớ không lạm dụng nó như mức tiêu thụ của các loại nước trái cây, chỉ uống nhiều như cơ thể đòi hỏi.

    Te bao ung thu bi tieu diet trong 42 ngay bang ly nuoc ep da thanh cong ngoai mong doi - Anh 3

    Lợi ích của củ cải đường hiếm người biết là gì?

    Củ cải đường dồi dào chất chống oxy hóa, C, B1, B2, vitamin B6, axit folic, pantothenic và các chất khoáng như kali, phốt pho, magiê, canxi, natri, sắt, kẽm. Màu đỏ trong củ cải đường hay củ dền đến từ chất betacyanins.

    Nhiều nghiên cứu đã chứng minh củ dền được coi là một trong những loại rau tốt cho sức khỏe nhất và cực kỳ hiệu quả trong việc điều trị chống lại bệnh bạch cầu, ung thư. Bởi củ cải đường chứa nhiều ở betain – là loại acid amin có tính chất chống ung thư mạnh. Nhiều nhà nghiên cứu xác nhận rằng betaine khi hấp thụ vào cơ thể sẽ phá hủy các tế bào trong khối u. Thêm vào đó, nó còn là một chất chống viêm và chống oxy hóa cực mạnh.

    Đối với người khỏe mạnh, tiêu thụ củ dền sẽ tăng cường chức năng của gan và túi mật, ngăn ngừa táo bón, chữa chứng đau đầu, đau răng, kiết lỵ và những vấn đề về xương khớp, da dẻ, kinh nguyệt. Đặc biệt, củ cải đường cực kỳ có lợi cho phụ nữ mang thai vì nó chứa hàm lượng cao acid folic.

    Quả thật củ dền là một cây thuốc không thể thiếu trong mọi chế độ ăn uống tốt cho sức khỏe hay điều trị bệnh tật.

    Chúc bạn và gia đình sống vui khỏe mỗi ngày!

    Nguồn Phụ nữ news

  • Người mẹ m;/ất vì đu;/ối nước, cả gia đình mang về nhà a-n tá/ng – nhưng đến lúc cho vào q;/uan tà/i thì đứa con 5 tuổi chỉ tay hét lên “mẹ bảo không phải”…

    Gia đình ông Lâm ở vùng ven sông vốn sống bình lặng. Cho đến ngày định mệnh—vợ ông, bà Hương, mất tích sau buổi đi giặt đồ bên bờ sông. Dân làng phát hiện thi thể một người phụ nữ trôi dạt cách đó hơn 1km, quần áo và vóc dáng gần như trùng khớp với bà Hương.

    Khi nhận được tin, ông Lâm gục ngã.

    Không cần giám định quá sâu vì thời gian cấp bách, gia đình đưa thi thể về tổ chức tang lễ theo phong tục. Cả nhà chìm trong tang thương.

    Buổi chiều nhập quan.

    Người thân, xóm làng đến đưa tiễn. Thi thể đã được khâm liệm, chuẩn bị đặt vào quan tài.

    Bỗng, thằng bé Bin – con út 5 tuổi của bà Hương – từ đâu lao đến, mặt tái nhợt, nước mắt chảy dài, hét lớn:

    “Không phải mẹ! Mẹ bảo con… không phải mẹ! Đừng bỏ mẹ trong đó!”

    Cả nhà chết lặng.

    Mọi người tưởng nó quá sốc vì mất mẹ. Nhưng Bin càng gào lên dữ dội, giật đứt cả khăn tang, chỉ tay vào thi thể:

    “Mẹ nói người này không phải mẹ! Mẹ đang lạnh! Mẹ ở chỗ cây cong!”

    Không khí trở nên nghẹt thở. Mọi ánh mắt dồn về phía đứa trẻ. Bà nội run giọng:

    “Hay… hay nó mơ thấy gì?”

    Ông Lâm, dù đang đau đớn tột cùng, đột nhiên siết chặt tay.

    Ông nhớ lại, trong lúc nhận thi thể, chỉ có mình ông ở đó. Khuôn mặt nạn nhân trương nước, rất khó nhận dạng, chỉ dựa vào quần áo.

    “Không thể… lỡ như…”

    Ông Lâm lập tức yêu cầu tạm dừng nhập quan, xin chính quyền cho kiểm tra lại hiện trường nơi phát hiện thi thể. Cả nhà, bán tín bán nghi, quay lại bờ sông, nơi thằng Bin chỉ:
    “Mẹ ở chỗ cây cong!”

    Đám người lần theo lời thằng bé, đi sâu thêm vài trăm mét vào bụi lau thì bất ngờ nghe tiếng rên yếu ớt.

    Một người phụ nữ, kiệt sức, nằm mắc kẹt giữa đám rễ cây và bùn lầy, chỉ còn thoi thóp thở.

    “Bà Hương!!!”

    Cả nhà gào lên. Đúng là bà. Mẹ còn sống.

    Hóa ra, người phụ nữ kia cũng mất tích cùng ngày, nhưng không ai báo, và thi thể bị nhầm. Bà Hương trượt chân rơi xuống, bị nước cuốn nhưng mắc kẹt ở chỗ gập sâu gần bãi lau. Bị thương nặng và mất sức, bà không kêu được, chỉ bấu víu hy vọng.

    Còn thằng Bin – chỉ đơn giản là đứa trẻ nhạy cảm, luôn gần mẹ – đã cảm được điều gì đó mà người lớn bỏ qua…

    Buổi tang lễ lặng lẽ biến thành ngày cả làng thở phào. Người phụ nữ sống sót, đứa trẻ được ôm mẹ trở về. Còn ông Lâm thì ôm con trai vào lòng, nghẹn ngào:

    “Con đã cứu cả nhà khỏi sai lầm suốt đời…”

  • Con gái đi học về ôm đầu khóc, mẹ thất kinh khi thấy vật thể lạ trên đầu con, đưa vào viện gấp

    Người mẹ sợ hãi khi chứng kiến sự cố xảy ra với con.

    Một bà mẹ tại Trung Quốc mới đây khiến cộng đồng mạng xôn xao khi chia sẻ sự cố con gái học mẫu giáo bị slime dính chặt vào tóc sau giờ học. Dù không gây nguy hiểm nghiêm trọng, tình huống này khiến nhiều phụ huynh lo lắng về những tai nạn nhỏ nhưng khó lường trong môi trường học đường.
    Theo chia sẻ, bé gái sau khi tan học đã bật khóc ngay khi vừa về đến nhà. Ban đầu người mẹ không hiểu chuyện gì xảy ra, cho đến khi con tháo mũ ra và để lộ phần tóc bị một khối slime bám dính, rối chặt thành cục.

    Qua lời kể của con, trong lúc chơi cùng các bạn ở trường, một bạn đã vô tình bôi slime lên tóc bé. Vì sợ bị cô giáo mắng nên đứa trẻ không dám nói với giáo viên cho tới khi về nhà.
    Người mẹ cho biết cô không trách mắng con vì hiểu đây chỉ là trò nghịch ngợm của trẻ nhỏ. Tuy nhiên, sau nhiều lần tự xử lý không thành công và lo ngại có thể làm tổn thương da đầu của con, chị quyết định đưa bé đến bệnh viện để nhờ bác sĩ hỗ trợ. Sau khi được xử lý, mái tóc của bé đã trở lại bình thường.

    Câu chuyện nhanh chóng thu hút sự chú ý trên mạng xã hội, đồng thời làm dấy lên nhiều bàn luận về việc phối hợp giữa  gia đình và giáo viên trong giai đoạn trẻ mới đi học.
    Nhiều chuyên gia giáo dục cho rằng khi trẻ bắt đầu đi học, phụ huynh nên chủ động trao đổi với giáo viên về tính cách và đặc điểm của con để nhà trường có thể quan tâm sát sao hơn. Những nội dung được khuyến khích chia sẻ gồm việc trẻ hiếu động, khả năng thích nghi, các vấn đề cần hỗ trợ hoặc kỹ năng cần phát huy.
    Ngoài ra, các chuyên gia cũng khuyến cáo phụ huynh cần hướng dẫn trẻ biết báo ngay với giáo viên hoặc người lớn khi gặp sự cố trong lúc vui chơi thay vì giấu giếm vì sợ bị la mắng.

    Trong trường hợp trẻ gặp tai nạn nhỏ như dính hóa chất, vật lạ hay bị thương khi chơi đùa, cha mẹ nên giữ bình tĩnh, đánh giá tình trạng ban đầu, sơ cứu đúng cách và đưa trẻ đến cơ sở y tế nếu cần thiết. Quan trọng hơn, sau mỗi sự cố, trẻ cần được giải thích nhẹ nhàng để hiểu cách tự bảo vệ bản thân trong những tình huống tương tự.

  • Năm xưa mẹ kế khiến bố mẹ tôi ly h:ô:n, nhưng giờ mẹ tôi lại tặng bà ấy một căn nhà

     

    Sau hơn 20 năm, mẹ ruột tìm đến tôi, mang theo một cuốn sổ đỏ và tặng cho mẹ kế dù năm xưa chính bà ấy là người cướp bố tôi khỏi tay mẹ.

    Năm tôi 7 tuổi, gia đình tôi tan vỡ. Tôi còn nhớ như in những ngày tháng ấy, ngày nào cũng là những trận cãi vã, đập phá, gào thét. Tôi thường trốn trong góc nhà, bịt tai lại mà vẫn không thể ngăn nổi tiếng mẹ khóc, tiếng bố gầm lên trong cơn giận dữ.

    Rồi một ngày, bố dắt về một người phụ nữ khác. Ông nói với tôi:

    – Bố mẹ ly hôn rồi. Từ nay, cô ấy là mẹ kế của con.

    Mẹ tôi khi đó như nổi điên. Bà lao vào mắng chửi người phụ nữ kia:

    – Đồ đàn bà trơ trẽn! Chính cô đã phá vỡ hạnh phúc của tôi. Tại sao cô lại có thể làm ra chuyện trái đạo đức như thế?

    Những lời đó đã khắc sâu vào tâm trí non nớt của tôi. Tôi tin rằng chính mẹ kế là nguyên nhân khiến gia đình mình tan nát. Từ ngày đó, tôi mang theo một nỗi hận trong lòng, dù bà có đối xử tốt với tôi thế nào đi nữa, tôi cũng không chịu tha thứ.

    Sau khi bố mẹ ly dị, tôi sống cùng bố và mẹ kế. Nói một cách công bằng, bà ấy chăm lo cho hai bố con tôi rất chu đáo. Ngày ngày bà dọn dẹp nhà cửa, nấu cơm tươm tất, lo cho tôi từng bữa ăn giấc ngủ. Nhưng tôi không thể mở lòng.

    Trong mắt tôi, bà chỉ là người đàn bà đã cướp đi gia đình tôi từng có. Dù bà tốt, tôi cũng nghĩ đó chỉ là cách để lấy lòng bố tôi.

    Đến năm 12 tuổi, tôi bị viêm ruột thừa cấp, phải nhập viện gấp. Khi nhận tin, mẹ kế bỏ dở tất cả mọi việc, lao đến bệnh viện. Bà thức trắng mấy đêm, tự tay nấu từng bát cháo, đút cho tôi ăn, lo cả việc vệ sinh cá nhân cho tôi mà không hề kêu ca.

    Thực phẩm bổ sung

     

    Tôi cảm động đến rơi nước mắt, nhưng ngoài mặt vẫn giả vờ lạnh nhạt. Tôi sợ nếu mình mềm lòng thì sẽ phản bội mẹ ruột.

    Đến năm tôi vào đại học, biến cố lớn xảy ra. Bố tôi gặp tai nạn giao thông và qua đời đột ngột. Hôm tang lễ, mẹ kế ôm tôi khóc nức nở:

    – Con à, mẹ mất đi người mình yêu rồi. Mẹ biết con luôn trách mẹ phá nát gia đình con, nhưng mẹ không thể điều khiển được trái tim mình. Mẹ yêu bố con, và dù có thế nào, mẹ cũng không hối hận vì những năm tháng đã sống cùng ông ấy. Còn con, mẹ vẫn luôn coi con là con ruột.

    Những lời đó khiến tôi nghẹn ngào. Hóa ra, bà ấy cũng chỉ là một người phụ nữ yêu sai người, dấn thân vào một cuộc tình ngang trái. Nhưng suốt những năm sau đó, bà vẫn ở bên tôi, nuôi tôi học đại học, chăm lo cho tôi từng chút một, không một lời than vãn. Hai mẹ con nương tựa vào nhau mà sống.

    Năm xưa mẹ kế khiến bố mẹ tôi ly hôn, nhưng giờ mẹ tôi lại tặng bà ấy một căn nhà - 2

    Sau khi bố mất, tôi và mẹ kế nương tựa vào nhau mà sống. (Ảnh minh họa)

    Ra trường, tôi đi làm, cuộc sống dần ổn định. Tôi bắt đầu nghĩ đến việc báo đáp mẹ kế, muốn cho bà một cuộc sống tốt hơn, bù đắp những năm tháng bà đã vì tôi mà hi sinh.

    Nhưng đúng lúc đó, mẹ ruột tôi xuất hiện. Sau hơn 20 năm, bà tìm đến tôi, mang theo một cuốn sổ đỏ, đưa cho mẹ kế rồi nói:

    – Đây là căn nhà tôi mua cho chị. Cảm ơn chị đã nuôi con tôi suốt từng ấy năm. Đây coi như là tiền công, chị nhận lấy đi.

    Mẹ kế lắc đầu, cười buồn:

    – Tôi không cần nhà. Nếu nó muốn theo chị, cứ để nó đi. Giờ chị có kinh tế khá, con ở với chị chắc chắn có tương lai tốt hơn. Tôi cũng định về quê rồi.

    Lúc ấy, tôi không thể im lặng thêm nữa. Tôi đứng lên, nói với mẹ ruột:

    – Con không đi đâu hết. Con muốn ở lại với mẹ kế, con muốn báo đáp bà ấy.

    Mẹ ruột tôi giận dữ:

    – Sao con lại bênh bà ta? Bà ấy là người phá hoại gia đình mình mà!

    Năm xưa mẹ kế khiến bố mẹ tôi ly hôn, nhưng giờ mẹ tôi lại tặng bà ấy một căn nhà - 3

    Mẹ đã mắng tôi khi tôi bênh vực mẹ kế. (Ảnh minh họa)

    Tôi nhìn thẳng vào mắt mẹ, từng câu từng chữ như cứa vào tim:

    – Khi con ốm đau, ai là người ở bên chăm sóc? Ai là người mua quần áo mới cho con, nấu cho con từng bữa cơm, đưa con đi họp phụ huynh? Là bà ấy. Còn mẹ, mẹ đã làm được gì cho con chưa? Suốt những năm qua mẹ chưa từng tới thăm con lấy một lần.

    Mẹ tôi bật khóc. Bà ôm chặt tôi, nước mắt không ngừng rơi:

    – Mẹ sai rồi. Mẹ sai thật rồi. Mẹ xin lỗi con…

    Hôm đó, cả ba chúng tôi ngồi lại với nhau, lần đầu tiên sau ngần ấy năm. Không còn những lời trách móc, không còn ai phải nặng lòng nữa. Tôi nắm tay mẹ ruột và mẹ kế, nói:

    – Thực lòng con không muốn mất ai trong hai người cả. Con có thể có hai người mẹ, phải không?

    Mẹ tôi và mẹ kế đều bật khóc. Hóa ra, tha thứ đôi khi không phải là sự yếu đuối, mà là cách để giải thoát cho chính mình. Tôi quyết định sẽ đón mẹ kế về sống cùng, còn mẹ ruột cũng thường xuyên qua lại, bù đắp cho những năm tháng đã bỏ lỡ.

    Cuộc đời tôi rốt cuộc cũng tìm được bình yên, sau bao năm sống trong hận thù. Nếu có thể lựa chọn lại, tôi vẫn sẽ chọn cách này, chọn yêu thương thay vì oán hận.

  • Chàng lính Mỹ tặng 50 phong bì và hứa: Khi thư cuối gửi đi, anh sẽ quay lại tìm em……..

    Chàng lính Mỹ tặng 50 phong bì và hứa: Khi thư cuối gửi đi, anh sẽ quay lại tìm em……..

    Tôi đứng ở sân bay Tân Sơn Nhất, tay run run bóp chặt bó hoa, tim đập mạnh đến nỗi tôi sợ mình sẽ ngã. Năm mươi năm. Đúng năm mươi năm kể từ ngày tôi rời Việt Nam, bỏ lại sau lưng cô gái tôi yêu nhất đời. Và bây giờ, ở tuổi ngoài bảy mươi, tôi đang đứng đây, chờ được gặp lại Lan. Tôi tên Ken Reesing, cựu binh Mỹ, năm nay 73 tuổi. Tôi sống một mình ở Ohio với con mèo nhỏ và những ký ức chưa bao giờ phai. Nhưng trước khi kể về cuộc gặp gỡ kỳ diệu này, tôi phải quay ngược thời gian về năm 1968, khi tôi hai mươi tuổi và chiến tranh Việt Nam đang ở đỉnh điểm khốc liệt.

    Tôi nhập ngũ năm 1966, hai năm sau được điều về Trung tâm Dịch vụ Dữ liệu của quân đội Mỹ đóng tại căn cứ Long Bình, Biên Hòa. Công việc của tôi là xử lý giấy tờ, nhưng mỗi tối buồn chán, tôi thường ghé qua câu lạc bộ EM Club uống vài ngụm bia. Đó là một quán bar nhỏ bên trong căn cứ, dành cho binh lính Mỹ giải khuây sau những giờ hành quân mệt mỏi. Tôi vẫn nhớ cái đêm số phận thay đổi cuộc đời mình. Tôi đang ngồi nhấp ngụm bia cuối cùng, định đứng dậy ra về, thì ánh mắt tôi vô tình chạm phải một cô gái phục vụ người Việt. Cô mặc chiếc áo dài xanh mà tôi chưa bao giờ quên được, mái tóc đen dài buông xõa, gương mặt thanh tú với đôi mắt sáng như có nước. Tôi đứng sững lại. Trong một khoảnh khắc, dường như cả căn phòng ngừng quay. Đó là tình yêu từ cái nhìn đầu tiên – thứ tôi từng nghĩ chỉ có trong phim ảnh, nhưng nó đã xảy ra với tôi, ở một góc quán bar giữa chiến trường đổ nát.

    Tôi bắt đầu đến quán bar thường xuyên hơn, chỉ để ngồi từ xa nhìn cô. Tôi không dám lại gần, không dám nói chuyện – tôi chỉ là một lính Mỹ trẻ tuổi ngốc nghếch, và cô là người con gái bản địa xinh đẹp đến mức khiến tôi sợ hãi. Rồi một ngày nọ, khi tôi vô tình làm rơi ly bia, cô bước tới, mỉm cười với tôi. Nụ cười ấy như ánh nắng xuyên qua màn khói chiến tranh. Cô nói bằng tiếng Anh ngọng nghịch: “Anh có sao không?” Tôi ấp úng trả lời, và từ đó, chúng tôi bắt đầu nói chuyện. Tên cô là Thúy Lan, hai mươi tuổi, làm phục vụ để kiếm tiền nuôi gia đình. Cô là chị cả, cha mẹ già yếu, mấy đứa em còn nhỏ. Mỗi cuối tuần, sau giờ lễ nhà thờ, Lan và tôi lại hẹn hò gần doanh trại. Chúng tôi đi dọc con đường đất đỏ, tay trong tay, nói đủ thứ chuyện trên trời dưới đất. Tôi dạy Lan tiếng Anh, Lan dạy tôi tiếng Việt. Tôi học cách nói “em yêu anh” và cô cười sặc sụa vì giọng tôi ngọng nghịu.

    Nhưng chiến tranh không cho phép chúng tôi mơ mộng quá lâu. Cuộc chiến ở Việt Nam ngày càng khốc liệt, tin tức về những người lính Mỹ ngã xuống dồn dập. Nỗi sợ hãi bắt đầu len vào những cuộc hẹn của chúng tôi. Có những lúc cả hai cùng im lặng, chỉ ngồi cạnh nhau nhìn bầu trời đang dần tối. Khoảng cách vô hình xuất hiện – không phải vì tình yêu ít đi, mà vì tôi biết rồi sẽ có một ngày tôi phải rời đi. Và cô biết điều đó, cô cũng hiểu. Cuối cùng, tôi quyết định hỏi Lan: “Em có muốn theo anh về Mỹ không?” Tôi gần như cầu hôn cô. Trái tim tôi đập loạn nhịp khi tôi đợi câu trả lời. Lan nhìn tôi thật lâu, đôi mắt đen lấp lánh nước. Rồi cô lắc đầu. “Anh Ken à, em yêu anh rất nhiều, nhưng em không thể bỏ lại gia đình em. Em là chị cả, ba mẹ già yếu, các em còn nhỏ. Em không thể đi.”

    Tôi tôn trọng quyết định đó, nhưng lòng tôi tan nát. Trước ngày tôi rút quân, tôi đã mua 50 phong bì, đánh số từ 1 đến 50. Tôi đưa cho Lan, nói trong nước mắt: “Khi lá thư cuối cùng được gửi đi, anh sẽ quay lại tìm em.” Chúng tôi ôm nhau lần cuối, tôi cảm nhận được những giọt nước mắt nóng hổi của cô thấm ướt vai áo tôi. Tôi đã hôn lên trán cô và bước đi. Năm đó, tôi nghĩ rằng tôi đang rời bỏ một phần linh hồn mình lại ở căn cứ Long Bình.

    Về Mỹ, tôi giữ lời hứa. Tôi viết thư cho Lan đều đặn, mỗi tháng một lá, từ số 1 đến số 50. Tôi kể cho cô nghe về cuộc sống ở Ohio, về nỗi nhớ nhung, về những đêm tôi không ngủ được vì nghĩ về nụ cười của cô. Tôi gửi đi tất cả. Và khi lá thư thứ 50 rời tay tôi, tôi bắt đầu chuẩn bị hành lý để quay lại Việt Nam, như lời hứa. Nhưng đó là thời điểm nhạy cảm nhất của cuộc chiến. Người Mỹ thời đó vô cùng căm ghét chiến tranh Việt Nam, bất kỳ ai tham gia vào cuộc chiến đó đều bị kỳ thị. Gia đình tôi kịch liệt phản đối, bạn bè quay lưng. Họ nói: “Ken, mày điên rồi! Đừng có quay lại nơi chết chóc đó!” Tôi cố gắng nhiều lần, nhưng không thể. Và rồi quân đội Mỹ rút khỏi Việt Nam, căn cứ Long Bình biến mất, địa chỉ liên lạc của Lan không còn nữa. Hai bên mất liên lạc hoàn toàn……………

    Nhiều năm trôi qua, tôi dần nguôi ngoai, cưới vợ, sống một cuộc sống bình thường. Nhưng trái tim tôi chưa bao giờ quên Lan. Cuộc hôn nhân của tôi chỉ kéo dài một năm, vợ tôi nhận ra tình yêu của tôi dành cho một bóng hình khác, một bóng hình nửa vòng trái đất. Chúng tôi chia tay. Tôi sống một mình, không con cái, trong căn nhà nhỏ ở Ohio với con mèo tên Charlie. Suốt 50 năm, tôi vẫn giữ một chiếc hộp đựng kỷ vật, bên trong có tấm hình Lan năm 17 tuổi, mái tóc đen dài, nụ cười e thẹn, chiếc áo dài xanh. Mỗi tối, trước khi ngủ, tôi lại mở hộp ra nhìn, tự hỏi không biết Lan có còn sống không, có hạnh phúc không. Tôi không mong gì hơn ngoài việc được biết cô còn sống, còn khỏe mạnh.

    Tháng 6 năm 2019, tôi quyết định làm một điều mà nhiều người bảo tôi điên rồ. Tôi đăng một dòng trạng thái lên mạng xã hội, kèm theo tấm hình của Lan khi còn trẻ. Tôi viết: “Xin chào, tôi là Ken Reesing, một cựu binh Mỹ từng đóng quân ở căn cứ Long Bình, Biên Hòa năm 1969. Tôi đã gặp và yêu một cô gái tên Thúy Lan, lúc đó cô làm việc tại EM Club. Bây giờ cô ấy có lẽ đã khoảng 70 tuổi. Tôi chưa bao giờ ngừng nghĩ về cô. Tôi đã hứa với cô sẽ quay lại nhưng vì nhiều lý do tôi không thể. Tôi muốn tìm lại cô gái ấy, người luôn trong trái tim tôi, chỉ để biết cô ấy vẫn còn sống và hạnh phúc. Tôi sẽ không can thiệp vào cuộc sống của cô.” Tôi không hy vọng nhiều. Tôi chỉ muốn trải lòng, như một cách giải tỏa nỗi niềm 50 năm đè nặng.

    Nhưng điều kỳ diệu đã xảy ra…………………

    Mời quý đọc giả đọc phần PHẦN 2 của câu chuyện

    TẠI ĐÂY

    Bài đăng của tôi lan truyền với tốc độ chóng mặt. Hàng nghìn người chia sẻ, hàng trăm bình luận. Cư dân mạng Việt Nam đã giúp tôi tìm ra Lan. Họ gửi tin cho tôi: Lan vẫn sống, vẫn ở Biên Hòa, bán cháo để kiếm sống, sống một mình, các con đã trưởng thành. Tôi ngồi sụp xuống ghế, khóc như một đứa trẻ. Tôi gọi ngay cho con trai của Lan để xin phép gặp lại mẹ. Họ đồng ý.

    Và bây giờ, ở cái tuổi 73, tôi đang đứng tại sân bay Tân Sơn Nhất, hồi hộp chờ giây phút định mệnh. Từ xa, tôi thấy một bóng dáng nhỏ nhắn bước tới. Lan. Cô mặc chiếc áo dài màu xanh, màu xanh mà tôi yêu thích nhất từ 50 năm trước. Mái tóc cô giờ đã bạc, nhưng nụ cười ấy, đôi mắt ấy, không thể nhầm lẫn. Tôi lao tới, ôm chầm lấy cô. Lan bật khóc, và tôi cũng khóc. Những năm tháng xa cách, những nỗi nhớ nhung, những lời hứa dang dở – tất cả dồn vào cái ôm ấy. Tôi đưa tay lau những giọt nước mắt trên má cô, như thể đang lau cho cô gái 20 tuổi năm nào. Lan nói trong tiếng nấc: “Em cứ nghĩ đó là một giấc mơ. Có một người đã yêu em và nhớ em suốt 50 năm. Người đó trở thành một người thân để em nói chuyện mỗi ngày, dù ở xa. Em không cần giàu sang, chỉ cần điều đó thôi là đủ.”

    Tôi ở lại Việt Nam 14 ngày. Trong khoảng thời gian ngắn ngủi ấy, tôi và Lan đã dành mọi giây phút bên nhau, như thể bù đắp cho 50 năm xa cách. Tôi đưa Lan đi dạo dọc sông Đồng Nai, cùng cô bán cháo, ngồi cạnh cô nhìn về phía căn cứ Long Bình giờ đã biến mất dưới những tòa nhà mới. Tôi thấy cô cười, thấy cô vui, và trái tim tôi như tìm lại nhịp đập đã mất từ lâu. Một lần nữa, tôi lại hỏi cô câu hỏi 50 năm trước: “Lan, em có muốn đi với anh không?” Tôi biết cả hai đều đã già, nhưng tôi vẫn muốn cưới cô, muốn hoàn thành lời hứa dang dở của mình. Lan nhìn tôi thật lâu, mắt rưng rưng. “Anh Ken, em yêu anh nhiều lắm. Nhưng em mới chỉ gặp lại anh, em còn nhiều điều chưa biết về anh, về những năm tháng đã qua. Em cần thời gian để nghĩ.”

    Ngày tôi rời Việt Nam, lòng tôi nặng trĩu. Nhưng lần này, tôi không còn tuyệt vọng như 50 năm trước, bởi tôi đã được gặp lại Lan, được ôm cô, được nhìn thấy nụ cười của cô. Đó là món quà lớn nhất đời tôi. Và tôi biết, dù cuối cùng Lan có theo tôi hay không, trái tim tôi đã tìm thấy bình yên. Con số 50 thật kỳ diệu – 50 phong bì tôi tặng cô, 50 năm xa cách, và cuối cùng, tình yêu của chúng tôi lại tìm thấy nhau. Khi lá thư cuối cùng đã gửi đi, tôi đã quay lại, đúng như lời hứa. Chỉ là muộn hơn một chút. Nhưng có muộn không, khi trái tim vẫn còn đập vì tình yêu ấy?

  • Cuối cùng, tôi tìm được một căn nhà cũ nằm trong con hẻm sâu, giá 500 ngàn/tháng, nghe còn rẻ hơn kí túc xá.

    1. – Phòng trọ 500 ngàn
    Tôi vừa tốt nghiệp đại học, chưa xin được việc, trong túi chỉ còn đủ tiền ăn tạm một tháng. Nhà ở tỉnh xa, nên ở Sài Gòn tôi phải tìm nơi trọ thật rẻ.

    Cuối cùng, tôi tìm được một căn nhà cũ nằm trong con hẻm sâu, giá 500 ngàn/tháng, nghe còn rẻ hơn kí túc xá.

    Căn trọ ẩm thấp, trần gỗ mục, góc tường mốc. Mùi ẩm lâu ngày bám vào không khí, nhưng chủ nhà – một bác gái ngoài sáu mươi, hiền lành – cam đoan:

    – Chỗ này trống lâu rồi, nên bụi bặm. Con chịu khó dọn tí là ở ngon. Khu này yên tĩnh lắm.

    Yên tĩnh là được, tôi nghĩ thầm. Chỉ cần ngủ được, có chỗ để đặt balo, cắm laptop, thế là đủ.

    Tôi trả tiền, dọn vào ngay chiều hôm ấy.

    Căn trọ qua bàn tay tôi dọn dẹp thì cũng tạm sạch. Khu vực sau nhà có một khoảnh sân nhỏ, cây cối um tùm. Có đúng một chậu hoa sứ cũ để ở góc, thân cong queo, lá rụng gần hết, đất khô như chưa được tưới nước nhiều tháng.

    Tôi không để tâm nhiều.

    Đêm đầu tiên, tôi mới hiểu tại sao nó rẻ như vậy…

    2. – Âm thanh sau nhà
    Tầm 1 giờ sáng, khi tôi đang chìm vào giấc ngủ thì nghe tiếng lạch cạch từ phía sau nhà.

    Tôi bật dậy, tim đập thình thịch.

    Tiếng gió thổi hay tiếng ai?

    Lạch… cạch…

    Tiếng vật gì đó chạm vào cửa sau. Lúc đó, tôi nghĩ chắc mèo hoặc chuột.

    Kệ, tôi ngủ tiếp.

    Đến gần 3 giờ sáng, lại tiếng lạch cạch. Lần này kèm theo tiếng… thở dài.

    Một luồng khí lạnh chạy dọc sống lưng.

    Nhưng tôi tự trấn an: “Chắc nhà cũ, tiếng gió lọt vào khe tường thôi.”

    Tôi không muốn trở thành người yếu bóng vía, nhất là khi… hết tiền chuyển trọ.

    Sáng hôm sau, tôi quyết định kiểm tra khu vực sau nhà. Có thể cửa bị long bản lề, hoặc chốt lỏng.

    Ra đến nơi, tôi thấy… không có gì bất thường.

    Chỉ có cái chậu hoa cũ – đêm hôm qua trông bình thường – giờ lại hơi nghiêng, như ai vừa động vào.

    Gặp chuyện lạ, tôi vốn tính tò mò. Tôi cúi xuống chỉnh lại.

    Nhưng vừa chạm vào thì chậu hoa vỡ tan.

    Đất trong chậu tràn ra nền. Tôi cắn môi vì sợ phải đền chậu cho chủ trọ.

    Tôi định gom đất lại thì bỗng thấy trong lớp đất khô, có một vật màu nâu cũ, hơi dài, nhẵn.

    Tôi tưởng là khúc rễ cây.

    Nhưng không.

    Khi tôi nhặt lên, ánh sáng chiếu vào làm tôi suýt đánh rơi.

    Là… một chiếc hộp gỗ khắc hoa văn cổ.

    Tôi đứng tim.

    Ai lại chôn một cái hộp dưới chậu hoa… trong một căn trọ 500 ngàn?

    3. – Chiếc hộp
    Hộp gỗ khóa kín bằng then đồng đã hoen. Tôi cạy nhẹ một góc. Chốt bật ra với tiếng tách nghe đến rợn người.

    Bên trong, không phải vàng bạc hay tiền bạc như tưởng tượng.

    Mà là:

    Một quyển nhật ký nhỏ, bìa da đã sờn.

    Một tấm ảnh đen trắng của một cô gái trẻ, mặc áo dài trắng, đứng trước chính căn nhà trọ này.

    Một mảnh tóc dài buộc bằng sợi chỉ đỏ.

    Tôi thấy da gà nổi hết lên.

    Hộp gỗ chôn dưới chậu hoa. Có tóc. Có ảnh. Có nhật ký…

    Tất cả giống như một thứ… di vật bị chôn giấu.

    Tôi mở nhật ký ra.

    Trang đầu ghi:

    “Nhật ký của H., 1994.”

    Tôi nuốt nước bọt. Căn nhà này tồn tại từ những năm đó?

    Tôi lật vài trang tiếp.

    Nét chữ mềm, gọn, thơm mùi giấy cũ.

    “Ngày 12/4:
    Người ta nói khu trọ này không lành. Nhưng tôi cần chỗ ở giá rẻ để theo đuổi ước mơ học đại học…”

    Trang khác:

    “Ngày 3/6:
    Mỗi đêm đều có tiếng gõ cửa sau. Nhưng tôi mở ra thì chẳng thấy ai. Hay là… tôi tưởng tượng?”

    Tôi rùng mình.

    Tiếng động y hệt những gì tôi nghe đêm qua.

    Tôi đọc tiếp.

    “Ngày 15/6:
    Hôm nay tôi dọn chậu hoa sau nhà. Hình như dưới đó có cái gì bị chôn rất sâu. Nhưng tôi sợ. Tôi sẽ đào lên khi tôi đủ can đảm.”

    Tim tôi thắt lại.

    Cô gái năm 1994 cũng nghe tiếng lạch cạch, cũng nghi có thứ bị giấu dưới chậu hoa.

    “Ngày 17/6:
    Tôi bị ai đó theo dõi. Mỗi lần đi học về, tôi đều cảm giác có ai đứng phía sau. Tôi đã kể với chủ nhà nhưng bác ấy nói tôi nghĩ nhiều.”

    Trang cuối cùng… chỉ viết đúng một dòng:

    “Nếu ai đó tìm thấy cuốn nhật ký này… xin hãy giúp tôi mở sự thật.”

    Bên dưới không có chữ ký. Chỉ là vết loang tròn như nước mắt.

    Tôi thấy đôi tay mình lạnh toát.

    Nhật ký của cô gái cách đây gần 30 năm.

    Tiếng động y hệt.

    Chậu hoa đặt đúng vị trí đó.

    Cô ấy đã muốn đào lên nhưng… không kịp?

    Một câu hỏi khác xuất hiện:

    Cô ấy đâu rồi?

    Và vì sao chiếc hộp lại bị chôn lại?

    4. – Chủ trọ
    Tôi đem chiếc hộp lên cho chủ trọ xem.

    Bác gái chủ nhà – người cho tôi thuê với giá 500 ngàn – nhìn hộp gỗ, bỗng đứng sững, mặt trắng bệch.

    Bác ngồi xuống ghế gỗ, nắm lấy tay tôi, giọng run:

    – Con… đào lên từ chậu hoa sau nhà à?

    – Dạ… con vô tình làm vỡ chậu.

    Bác thở dài, nhìn ra khoảng sân sau như đang đối mặt với quá khứ.

    – Bao nhiêu năm rồi… tôi tưởng không ai tìm thấy nữa…

    Tim tôi đập mạnh:

    – Bác… biết chiếc hộp này?

    Bác nhắm mắt vài giây, rồi chậm rãi kể:

    “Cách đây gần ba mươi năm, đúng có một cô gái tên H. thuê phòng này. Cỡ tuổi bằng con bây giờ. Nó hiền lắm, ngoan lắm. Nhưng rồi… nó mất tích.”

    Tôi sững người:

    – Mất tích…?

    – Ừ. Tôi là người cuối cùng nhìn thấy nó. Hôm đó trời mưa. Nó nói nó nghe tiếng động đêm nào cũng giống nhau. Tôi bảo chắc mèo chuột, đừng sợ. Tối đó nó về phòng. Sáng hôm sau… cửa mở toang. Không còn ai bên trong.

    Tôi lạnh sống lưng.

    – Vậy còn chiếc hộp?

    Bác nhìn tôi rất lâu.

    – Hộp đó… của nó. Sau khi công an đến kiểm tra, họ không thấy gì manh mối. Nhưng vài ngày sau, tôi phát hiện cái chậu hoa bị xới lên. Như có ai đó chôn cái gì. Tôi… tôi sợ chuyện không lành, nên cũng không đào sâu.

    – Rồi bác để yên đến giờ?

    – Ừ. Tội nghiệp con bé đó. Không ai tìm thấy nó nữa.

    Bác đứng dậy, tấm lưng hơi run:

    – Con… có nghe tiếng gì đêm qua không?

    Tôi nghẹn họng.

    – Dạ… có.

    Bác im lặng rất lâu.

    Rồi bác nói một câu khiến tim tôi lạnh buốt:

    – Mấy người từng thuê phòng này… đêm nào cũng nghe thấy.

    5. – Đêm thứ hai
    Tối hôm đó, tôi không ngủ. Tôi ngồi trước hộp gỗ, trước cuốn nhật ký của H.

    Đồng hồ chỉ 1 giờ 58 phút.

    Tôi tắt đèn.

    2 giờ 10.

    Gió thổi. Cánh cửa sau khẽ rung.

    2 giờ 42.

    Tôi nghe tiếng bước chân kéo lê.

    3 giờ đúng.

    Lạch… cạch…

    Âm thanh quen thuộc. Lần này đến rõ hơn.

    Lạch… cạch… cạch…

    Tôi run lên, nhưng vẫn lấy hết can đảm, cầm đèn pin, bước ra sau nhà.

    Tôi mở cửa.

    Gió lùa qua, lạnh buốt.

    Không thấy ai.

    Chỉ thấy… cái chậu hoa bị vỡ hôm qua, đất văng tung tóe.

    Và giữa đống đất ấy… có một vật lấp ló.

    Tôi cúi xuống.

    Kéo đất ra.

    Đó là…

    một chiếc vòng tay bằng bạc – loại của những năm 90 – khắc chữ nhỏ bên trong:

    “H. – 1993”

    Tôi suýt đánh rơi nó.

    Ngay khi tôi nhặt lên, tiếng thở dài vang lên ngay sau lưng.

    Rõ ràng. Không nhầm.

    Tôi quay lại.

    Đèn pin chao đảo.

    Không có ai.

    Nhưng có mùi hương thoang thoảng… như hương của người con gái dùng nước hoa phấn hoa ngày xưa.

    Tôi đứng như trời trồng.

    Rồi một giọng nói rất nhỏ… hệt hơi gió, ngay trước tai tôi:

    “Cảm ơn…”

    Tim tôi như ngưng một nhịp.

    Giọng nói tan vào gió.

    Cả khoảng sân lại rơi vào tĩnh lặng.

    Tôi hiểu.

    Cô ấy… không mất tích.

    Cô ấy… bị giữ lại nơi này.

    Và gần ba mươi năm qua, cô ấy chờ ai đó đào lên những thứ bị chôn giấu, để kể nốt câu chuyện dang dở của mình.

    6. – Sự thật sau cùng
    Hôm sau, tôi mang nhật ký và chiếc vòng đến báo công an.

    Lật lại hồ sơ cũ, họ phát hiện thời điểm cô H. mất tích có một vụ án khác liên quan đến một gã đàn ông hay lảng vảng quanh khu trọ.

    Hồ sơ năm ấy bị bỏ dở vì không đủ bằng chứng.

    Nhưng nhờ những thứ tôi tìm được, vụ án được khơi lại.

    Vài tuần sau, họ bắt được gã đàn ông – đã già – sống ở tỉnh lân cận. Hắn từng theo dõi H., từng vào phòng cô đêm cô mất tích.

    Những gì còn lại trong hộp gỗ – ảnh, tóc, nhật ký – đều là di vật của cô gái đáng thương.

    Bác chủ trọ khi biết tin, ngồi bệt xuống sàn mà khóc.

    Tôi cũng khóc.

    Không hiểu sao, tôi thấy như mình đã dọn đến đây… để hoàn thành điều cô gái H. còn dang dở.

    7. – Một lời tạm biệt
    Đêm cuối cùng ở căn trọ trước khi chuyển sang nơi mới, tôi đặt lại chiếc chậu hoa (đã mua chậu mới) vào góc sân sau. Tôi cắm một nhành hoa trắng lên đó.

    Gió thổi nhẹ, không còn tiếng lạch cạch nữa.

    Trước khi bước vào nhà, tôi nghe một âm thanh mơ hồ, như tiếng ai đó thì thầm:

    “Cảm ơn vì đã tìm thấy tôi.”

    Tôi mỉm cười, thắp một nén nhang nhỏ.

    Căn trọ 500 ngàn… có lẽ không bình yên như tôi tưởng.

    Nhưng nhờ nó, tôi học được rằng:

    Có những bí mật không phải để dọa người sống –
    Mà để cầu cứu người sống.

    Và đôi khi… đúng người sẽ đến đúng lúc, dù họ chỉ định thuê trọ giá rẻ mà thôi.

  • Ngã Ba Đồng Lộc – Bà Lão Chờ Người Lính 45 Năm Và Cái Kết Khiến Ai Cũng Lặng Người…..

    45 năm ngồi chờ ở ngã ba Đồng Lộc – Bà Lão Chờ Người Lính 45 Năm Và Cái Kết Khiến Ai Cũng Lặng Người…..

    Người ta bảo rằng ở ngã ba Đồng Lộc, nơi từng là tọa độ lửa của những năm tháng chiến tranh khốc liệt, có một bà lão ngồi đó suốt gần nửa đời người. Không ai nhớ chính xác bà bắt đầu xuất hiện từ khi nào. Chỉ biết rằng từ sau ngày đất nước im tiếng súng, khi những con đường dần được vá lại, khi cây cối mọc lên trên những hố bom cũ thì bà lão ấy đã có mặt.

    Sáng nào cũng vậy, khi màn sương còn phủ mỏng trên những triền đồi Hà Tĩnh, khi gió sớm thổi qua những dáng thông già khiến lá xào xạc như tiếng thì thầm của quá khứ, người ta lại thấy bà ngồi bên mép con đường cũ. Một chiếc ghế gỗ thấp, một chiếc nón lá đã bạc màu theo năm tháng, một chiếc túi vải cũ được ôm chặt trong lòng. Bà ngồi đó, lặng lẽ nhìn về phía con đường dẫn vào ngã ba. Không nói chuyện nhiều, không xin ai điều gì, chỉ ngồi và chờ.

    Những người lái xe đường dài quen thuộc với con đường này đều biết bà. Họ đi ngang, thỉnh thoảng dừng lại hỏi han, đưa cho bà chai nước, cái bánh. Bà luôn mỉm cười rất hiền, một nụ cười hiền đến mức khiến người ta cảm thấy trong đó có điều gì đó rất buồn. Có lần một anh tài xế trẻ tò mò hỏi: “Bà chờ ai vậy bà?” Bà lão nhìn ra phía con đường xa, nơi ánh nắng sớm vừa chạm xuống những vạt cỏ còn ướt sương. Rồi bà trả lời chậm rãi: “Tôi chờ một người đi qua đây.” Chỉ vậy thôi. Anh tài xế hỏi thêm, bà chỉ cười.

    Những người dân quanh vùng đã quen với hình ảnh ấy từ rất lâu. Họ gọi bà bằng một cái tên giản dị: bà Chờ. Không ai biết tên thật của bà, không ai biết bà từng sống ở đâu, cũng không ai biết người mà bà chờ là ai. Chỉ có một điều, người ta truyền tai nhau suốt nhiều năm: bà đã ngồi ở ngã ba Đồng Lộc suốt 45 năm. 45 mùa mưa, 45 mùa nắng, 45 mùa hoa sim tím nở trên những sườn đồi từng bị bom cày xới.

    Có những năm bão lớn, gió thổi dàn dạt qua rừng, cây đổ trắng ngang đường, người ta vẫn thấy bà ôm chiếc túi vải cũ ngồi nép dưới mái hiên của ngôi nhà tưởng niệm. Có những ngày nắng gắt đến cháy da, bà vẫn đội chiếc nón lá sờn và nhìn ra con đường ấy. Như thể bà sợ rằng chỉ cần rời đi một chút thôi, người đó sẽ đi ngang qua mà không thấy bà.

    Thời gian trôi đi, những đứa trẻ sinh ra trong làng lớn lên rồi lại có con. Những người lính năm xưa già đi, những câu chuyện chiến tranh dần trở thành ký ức. Nhưng bà lão vẫn ở đó, không đổi. Chỉ có mái tóc của bà ngày càng bạc trắng, đôi tay ngày càng run và ánh mắt ngày càng sâu, như mang theo cả một bầu trời ký ức mà không ai có thể nhìn thấy.

    Một buổi chiều cuối thu, khi gió bắt đầu mang theo cái lạnh đầu mùa, một đoàn khách từ miền Nam ra thăm di tích Đồng Lộc. Trong đoàn có một người đàn ông khoảng ngoài 70. Ông đi chậm hơn những người khác, bước chân nặng nề, ánh mắt lặng lẽ quan sát từng gốc cây, từng bậc đá, từng khoảng đất nơi xưa kia bom đạn đã cày nát. Ông đứng rất lâu trước tấm bia tưởng niệm, không nói gì, chỉ lặng im.

    Rồi khi đoàn chuẩn bị rời đi, ông nhìn thấy bà lão ngồi bên con đường cũ. Bà vẫn như mọi ngày: chiếc nón lá cũ, chiếc ghế gỗ thấp, chiếc túi vải đặt trên đùi. Người đàn ông đứng lại. Ông nhìn bà rất lâu, lâu đến mức một người trong đoàn phải quay lại gọi: “Bác ơi, mình đi thôi.” Ông không trả lời ngay. Ánh mắt ông dừng lại ở chiếc túi vải cũ của bà – một chiếc túi đã sờn đến mức gần như rách nhưng bà vẫn giữ chặt nó trong tay.

    Người đàn ông khẽ hỏi một người dân đứng gần đó: “Bà cụ ngồi đây lâu chưa?” Người dân đáp: “Lâu lắm rồi.” “Bao lâu?” Người đàn ông hỏi. Người dân nghĩ một lúc rồi nói: “Nghe nói từ sau chiến tranh đến giờ.” Ông im lặng. “Bà chờ ai vậy?” Người đàn ông hỏi tiếp. Người dân lắc đầu: “Không ai biết, chỉ biết bà nói bà chờ một người lính đi qua ngã ba này.”

    Người đàn ông khẽ giật mình. Một cơn gió chiều thổi qua, những chiếc lá khô bay lăn trên mặt đường. Ông bước chậm lại gần bà lão, nhưng rồi ông dừng lại. Không hiểu vì sao, ông không đủ can đảm bước thêm bước nữa. Ông chỉ đứng đó nhìn bà, ánh mắt vừa xa xăm vừa đau đáu. Trong khi đó, bà lão vẫn nhìn về con đường, không hề biết rằng có một ánh mắt đang nhìn mình rất lâu từ phía sau.

    Chiều hôm đó, khi đoàn khách đã rời đi, người đàn ông vẫn đứng lại khá lâu ở khoảng đất phía sau ngôi nhà tưởng niệm. Ông không tiến lại gần bà lão, nhưng cũng chưa vội bước đi. Ánh mắt ông vẫn dõi theo dáng người gầy nhỏ đang ngồi bên mép con đường cũ. Hoàng hôn ở ngã ba Đồng Lộc luôn mang một vẻ gì đó rất lặng lẽ. Màu nắng nhạt dần trên những sườn đồi, những rặng cây im lìm trong gió nhẹ. Như thể cả vùng đất này vẫn đang giữ lại những ký ức không thể gọi thành lời.

    Người đàn ông khẽ cúi đầu, bàn tay run chạm vào chiếc mũ cũ trên tay. Trong khoảnh khắc ấy,……………………….

    Mời quý đọc giả đọc phần PHẦN 2 của câu chuyện

    ký ức xa xôi của ông như bị gió chiều đánh thức. Ký ức của một thời tuổi trẻ, ký ức của những năm tháng mà ngã ba này không phải là nơi bình yên như bây giờ.

    Ngày ấy, Đồng Lộc là một trong những điểm nóng nhất của chiến tranh. Con đường nhỏ chạy qua ngã ba là tuyến vận tải quan trọng nối hậu phương với tiền tuyến. Ngày nào cũng có hàng đoàn xe chở lương thực, đạn dược, thuốc men đi qua. Và cũng chính vì thế, nơi đây trở thành mục tiêu đánh phá dữ dội. Bom rơi gần như mỗi ngày. Có những ngày đất trời rung lên hàng chục lần, khói bom phủ kín cả những triền đồi, đất đá văng tung tóe. Những hố bom chồng lên hố bom, sâu hoắm như những vết thương không bao giờ lành.

    Nhưng giữa nơi khốc liệt ấy vẫn có những con người trẻ tuổi bám trụ ngày đêm. Họ không cầm súng, họ cầm cuốc xẻng và đôi bàn tay trần. Họ là những nữ thanh niên xung phong, những cô gái chỉ mới mười tám, đôi mươi rời quê nhà, rời ruộng đồng, rời gia đình để đến với con đường lửa này. Công việc của họ giản dị mà nguy hiểm đến không ngờ. Ban ngày khi máy bay còn gầm rú trên bầu trời, họ phải ẩn mình trong những hầm đất nhỏ. Chỉ cần tiếng động cơ vừa xa dần, họ lập tức chạy ra đường, lấp hố bom, san đất, dọn đá, mở lại con đường cho những đoàn xe tiếp tục đi qua. Đêm đến, khi bóng tối phủ xuống những sườn đồi, họ lại cầm đèn pin, cầm cuốc xẻng tiếp tục làm việc. Đôi khi vừa làm vừa hát, những bài hát tuổi trẻ vang lên giữa mùi đất mới và khói bom còn vương lại.

    Trong số những cô gái ấy có một người tên là Lan. Lan không phải người Hà Tĩnh. Cô đến từ một vùng quê nhỏ ở Nghệ An. Cô có đôi mắt rất sáng và nụ cười hiền đến mức ai gặp cũng có cảm giác như được sưởi ấm. Ngày Lan đến đơn vị, cô mới tròn 19 tuổi – cái tuổi mà nhiều cô gái khác vẫn còn ngồi bên khung cửi hoặc theo mẹ ra đồng gặt lúa. Nhưng Lan lại khoác lên mình bộ áo thanh niên xung phong màu xanh bạc màu, buộc mái tóc dài gọn sau gáy, rồi theo đoàn xe ra tuyến lửa.

    Những ngày đầu ở Đồng Lộc, Lan còn lạ lẫm với mọi thứ. Tiếng bom, mùi thuốc súng, những đêm phải ngủ trong hầm đất chật hẹp, những buổi sáng vừa thức dậy đã phải chạy ra đường dọn hố bom. Nhưng Lan không than vãn, cô làm việc rất chăm chỉ, đôi bàn tay nhỏ bé luôn lấm đầy đất đỏ. Có hôm làm việc suốt cả ngày, đến tối mới nhận ra bàn tay mình đã phồng rộp. Bạn bè trong đơn vị hay trêu: “Lan này, tay mềm thế kia mà đi xung phong à?” Lan chỉ cười, nụ cười rất nhẹ. “Đường phải thông thì xe mới chạy được. Xe chạy được thì ngoài kia các anh mới có cơm ăn.” Câu nói giản dị ấy khiến nhiều người im lặng.

    Một buổi chiều năm ấy, bầu trời Đồng Lộc bất ngờ yên ắng lạ thường. Không có tiếng máy bay, không có tiếng bom, chỉ có gió thổi qua những tán cây và mùi đất ẩm sau cơn mưa nhẹ. Đơn vị của Lan vừa hoàn thành việc san lấp một hố bom lớn giữa ngã ba. Cả nhóm đang ngồi nghỉ bên vệ đường. Đúng lúc đó, từ phía con đường dẫn vào, một chiếc xe quân sự chậm rãi tiến tới. Chiếc xe dừng lại, một người lính bước xuống. Anh còn rất trẻ, bộ quân phục phủ đầy bụi đường, đôi mắt sâu và mệt mỏi sau nhiều ngày hành quân. Anh nhìn quanh con đường vừa được san phẳng rồi khẽ gật đầu như một lời cảm ơn thầm lặng. Ánh mắt anh vô tình dừng lại ở Lan. Cô đang cúi xuống phủi đất trên chiếc cuốc. Khi ngẩng lên, ánh mắt hai người chạm nhau. Chỉ trong một khoảnh khắc ngắn ngủi, nhưng có những cuộc gặp gỡ tưởng chừng rất bình thường lại trở thành điểm khởi đầu cho một câu chuyện kéo dài suốt cả một đời người.

    Người lính ấy tên là Lâm. Anh bước lại gần, hỏi: “Các cô vừa san xong hố bom phải không?” Lan gật đầu: “Dạ, mới xong cách đây một lúc.” Anh nhìn ra giữa ngã ba, con đường đất đỏ vẫn còn dấu vết mới san, những vệt cuốc còn hằn trên mặt đường. Anh khẽ nói, giọng trầm xuống: “May quá. Nếu không, đoàn xe phía sau chắc phải dừng lại.” Lan nhìn theo ánh mắt anh, ở phía xa xa vài chiếc xe quân sự đang đợi. Cô khẽ cười: “Chúng tôi quen rồi. Hố bom vừa xong là phải lấp ngay, không kịp nghỉ đâu.” Người lính nhìn đôi bàn tay của cô – bàn tay nhỏ dính đầy đất đỏ, vài chỗ còn xước. Anh im lặng một lúc rồi nói: “Cảm ơn các cô.” Lan hơi bất ngờ. Ở Đồng Lộc, những lời cảm ơn như vậy không phải lúc nào cũng nghe được. Công việc của họ vốn dĩ lặng lẽ, ít khi được nhắc tới. Lan chỉ khẽ lắc đầu: “Không có gì đâu anh. Nếu tụi em không làm thì xe không đi được.”

    Hai người đứng bên mép con đường nói chuyện những điều rất giản dị. Lâm kể về những ngày hành quân qua rừng, những con đường đầy bùn lầy, những đêm phải ngủ dưới mưa. Lan và các cô gái thì kể về những trận bom bất ngờ ở Đồng Lộc, có hôm bom rơi dồn dập đến mức đất rung lên từng cơn, có hôm cả đơn vị vừa lấp xong hố bom thì máy bay lại quay trở lại. Nhưng giữa những câu chuyện khốc liệt ấy vẫn có những tiếng cười, rất trẻ, rất trong.

    Mặt trời dần khuất sau những triền đồi. Ánh hoàng hôn nhuộm vàng cả khoảng trời phía tây. Lan và Lâm ngồi tách ra một chút khỏi nhóm. Không phải vì họ cố ý, chỉ là cả hai cùng nhìn về phía con đường nơi những chiếc xe thỉnh thoảng chạy qua. Một lúc sau, Lâm nói khẽ: “Ở đây chắc nguy hiểm lắm.” Lan gật đầu: “Có hôm bom rơi ngay trước mặt.” Cô nói rất nhẹ, như thể đó chỉ là một chuyện bình thường. Lâm nhìn cô: “Cô có sợ không?” Lan im lặng vài giây rồi khẽ nói: “Cũng sợ chứ.” Gió chiều thổi qua làm vài sợi tóc của cô bay nhẹ trước trán. “Nhưng nếu tụi em không làm, con đường này sẽ bị tắc.” Lâm không nói gì thêm. Anh hiểu rằng đằng sau câu nói giản dị ấy là cả một sự can đảm mà không phải ai cũng có.

    Một lúc sau, từ phía chiếc xe có người lính gọi lớn: “Lâm, chuẩn bị lên đường.” Không khí bỗng trùng xuống. Lan nhìn anh, cô biết cuộc gặp gỡ này lại sắp kết thúc. Lâm đứng dậy, anh nhìn con đường rồi quay sang Lan. Ánh mắt anh lần này sâu hơn, như muốn nói điều gì đó, nhưng anh không biết phải bắt đầu thế nào. Cuối cùng anh nói: “Tôi có thể quay lại đây lần nữa không?” Lan khẽ cười, nụ cười rất dịu: “Ngã ba Đồng Lộc luôn có người trực.” Lâm gật đầu, anh nhìn cô rất lâu như cố ghi nhớ gương mặt ấy trong ký ức. Rồi anh nói, giọng chậm rãi: “Nếu chiến tranh kết thúc, tôi sẽ quay lại đây.” Lan hỏi nhỏ: “Thật không?” Lâm gật đầu: “Thật.” Gió chiều lướt qua con đường. Ở phía xa, bầu trời bắt đầu nhuộm màu tím nhạt. Lan khẽ nói: “Vậy em sẽ chờ.”

    Câu nói ấy rất khẽ nhưng đủ để Lâm nghe thấy. Anh đứng im vài giây, có lẽ chính anh cũng không ngờ rằng một lời hứa giản dị như thế lại khiến lòng mình nặng trĩu. Cuối cùng anh bước về phía chiếc xe. Trước khi lên xe, anh quay lại. Lan vẫn đứng bên con đường, dáng người nhỏ bé giữa khoảng trời rộng lớn. Chiếc xe quân sự khởi động, bánh xe lăn qua lớp đất đỏ. Lan nhìn theo cho đến khi chiếc xe khuất hẳn sau khúc cua. Cô không biết rằng đó là lần cuối cùng cô thấy Lâm trong những năm tháng chiến tranh.

    Vài tuần sau, ngã ba Đồng Lộc lại trải qua một trận đánh dữ dội. Bom rơi suốt nhiều giờ, đất đá bị xé tung. Sau trận bom, một người lính từ đoàn xe ghé qua mang theo một tin tức khiến nhiều người lặng đi: đơn vị của Lâm đã gặp bom khi hành quân qua một khu rừng phía nam. Chiếc xe chở anh bị trúng bom. Không ai biết chính xác chuyện gì đã xảy ra sau đó. Tin tức rất mơ hồ, chỉ biết rằng nhiều người lính trong đoàn đã không trở về.

    Lan nghe xong, cả người cô bỗng lạnh đi. Cô không nói gì, chỉ lặng lẽ nhìn ra con đường – con đường mà Lâm đã từng hứa sẽ quay lại. Đêm hôm đó, Lan không ngủ. Cô ngồi bên cửa hầm nhìn ra khoảng trời tối mịt. Trong lòng cô vẫn có một niềm tin rất mong manh rằng có thể ai đó đã nhầm, rằng có thể anh vẫn còn sống, rằng có thể một ngày nào đó chiếc xe quen thuộc sẽ lại dừng lại ở ngã ba này và người lính ấy sẽ bước xuống như buổi chiều năm nào. Nhưng Lan không biết rằng lời hứa nhỏ bé ở ngã ba Đồng Lộc năm ấy sẽ trở thành một lời hứa kéo dài suốt 45 năm của cuộc đời cô.

    Sau chiến tranh, Lan trở về quê. Những năm sau đó không dễ dàng. Đất nước vừa đi qua quá nhiều mất mát. Cô làm đủ mọi việc: lúc phụ hợp tác xã, lúc trồng lúa, lúc hái chè trên đồi. Cuộc sống giản dị chậm rãi trôi qua. Những người bạn cùng đơn vị năm xưa lần lượt lập gia đình. Họ mời Lan đến dự đám cưới. Ai cũng hỏi cô một câu giống nhau: “Sao Lan chưa lấy chồng?” Lan chỉ cười, cô không trả lời. Ban đầu mọi người nghĩ rồi cô cũng sẽ gặp một người nào đó. Nhưng 5 năm trôi qua, 10 năm trôi qua, Lan vẫn sống một mình. Không ai hiểu vì sao. Có những buổi chiều sau khi làm việc xong, Lan lại đi bộ ra con đường lớn của huyện. Cô đứng nhìn những chiếc xe chạy qua – không phải vì chờ ai cụ thể, mà chỉ vì trong lòng cô luôn có một cảm giác rất khó gọi tên, một cảm giác rằng ở đâu đó trên con đường dài của đất nước, có thể vẫn còn một người đang trở về.

    Một buổi sáng đầu thu, khi cô đã ngoài 50 tuổi, Lan quay trở lại Đồng Lộc. Không phải vì có ai rủ, cũng không phải vì một dịp đặc biệt nào. Chỉ đơn giản là cô muốn quay lại nơi đã giữ lại những năm tháng tuổi trẻ của mình. Ngã ba Đồng Lộc lúc ấy đã khác xưa rất nhiều. Con đường đất đỏ ngày nào đã được trải nhựa. Những triền đồi từng bị bom cày xới giờ phủ đầy cây xanh. Ngôi nhà tưởng niệm được dựng lên trang nghiêm và lặng lẽ. Lan bước đi rất chậm trên con đường cũ. Mỗi bước chân đều gợi lại trong cô những ký ức đã ngủ yên rất lâu: tiếng cuốc xẻng, tiếng bom nổ, tiếng gọi nhau trong khói bụi, và cả giọng nói trầm ấm của một người lính trẻ năm nào.

    Lan dừng lại ở đúng nơi chiếc xe quân sự từng đỗ. Gió từ triền đồi thổi xuống, mang theo mùi cỏ khô. Cô ngồi xuống bên vệ đường, chỉ để nghỉ một lát. Nhưng rồi khi đứng lên, cô chợt nhận ra mình không muốn rời đi. Ngày hôm sau, Lan lại quay ra ngã ba. Rồi ngày hôm sau nữa. Cứ như vậy, ban đầu chỉ vài giờ mỗi ngày, sau đó là cả buổi, rồi dần dần gần như cả ngày. Người dân quanh vùng bắt đầu chú ý đến người phụ nữ hay ngồi bên con đường. Một bà cụ bán nước hỏi: “Chị ra đây làm gì hoài vậy?” Lan mỉm cười rất nhẹ: “Tôi chờ một người.” Bà cụ hỏi: “Ai vậy?” Lan nhìn về phía con đường xa: “Người lính từng đi qua đây.”

    Từ đó, hình ảnh người phụ nữ ngồi bên ngã ba Đồng Lộc trở nên quen thuộc. Năm này qua năm khác, mùa mưa đến bà đội chiếc nón lá cũ. Mùa nắng đến bà vẫn ngồi ở đó. Chiếc túi vải cũ luôn được bà ôm trong lòng. Bên trong là kỷ vật nhỏ của những năm tháng thanh niên xung phong và một tấm khăn tay đã phai màu theo thời gian. Không ai biết rằng đó là chiếc khăn Lan đã dùng để gói ít lá chè khô đưa cho Lâm trong buổi chiều cuối cùng họ gặp nhau. Người ta bắt đầu gọi bà bằng một cái tên rất giản dị: bà Chờ. 45 năm trôi qua, người phụ nữ năm nào giờ đã trở thành một bà lão tóc bạc. Nhưng bà vẫn ngồi đó, ngày nào cũng vậy, nhìn về con đường dẫn vào ngã ba Đồng Lộc. Như thể chỉ cần bà rời đi một ngày thôi, người lính năm ấy sẽ quay lại và không tìm thấy bà.

    Rồi một buổi chiều cuối thu, người đàn ông ấy đã đến. Đứng trước mặt bà, ông khẽ gọi: “Lan.” Bà lão ngẩng lên. Ánh mắt bà nhìn ông rất lâu. Và rồi bà khẽ run, giọng khàn đi: “Lâm?” Ông gật đầu. Không ai nói gì thêm. Bà Lan chậm rãi đứng lên, đôi chân già yếu khiến bà hơi loạng choạng. Ông vội bước tới đỡ bà. Bà nhìn ông, nước mắt bắt đầu rơi. Không phải những giọt nước mắt vội vàng, mà là những giọt nước mắt chậm rãi, nặng chĩu như đã được giữ lại suốt mấy chục năm. Bà nghẹn giọng: “Anh còn sống thật sao?” Ông cúi đầu: “Tôi xin lỗi, Lan.”

    Họ ngồi bên nhau dưới gốc cây già. Ông kể về trận bom năm ấy: chiếc xe bị đánh trúng, ông bị thương nặng, được đưa đi rất xa. Sau chiến tranh, ông đã nhiều lần muốn quay lại nhưng cuộc sống cuốn ông đi, những vết thương cũ khiến ông đi lại khó khăn, rồi thời gian trôi qua nhanh hơn ông tưởng. Cho đến khi mái tóc ông bạc trắng, ông nhận ra rằng nếu mình không quay lại, có lẽ sẽ không bao giờ còn cơ hội nữa.

    Bà Lan ngồi nghe, không ngắt lời. Một lúc lâu sau, bà khẽ mở chiếc túi vải cũ. Bên trong là chiếc khăn tay đã sờn. Bà đưa ra, giọng rất nhẹ: “Anh còn nhớ cái này không?” Lâm nhìn chiếc khăn, đôi mắt ông bỗng đỏ lên: “Khăn gói chè em đưa tôi hôm đó.” Bà Lan khẽ cười: “Em giữ lại.” Gió chiều thổi qua, chiếc khăn cũ khẽ lay động trong tay bà.

    Lâm nhìn bà rất lâu rồi hỏi một câu mà ông đã giữ trong lòng suốt nhiều năm: “Lan, sao em không lập gia đình?” Bà không trả lời ngay. Bà nhìn ra con đường – con đường nơi bà đã ngồi suốt 45 năm. Rồi bà nói, giọng rất nhẹ: “Vì em đã hứa sẽ chờ.” Lâm bỗng cúi mặt, vai ông run lên. Một người lính đã đi qua chiến tranh, đã sống sót qua bom đạn, nhưng giờ đây lại không thể ngăn được những giọt nước mắt của mình. Ông nắm lấy bàn tay gầy của bà, hai bàn tay già nua nắm chặt nhau, như thể sợ rằng chỉ cần buông ra, họ sẽ lại lạc mất nhau thêm một lần nữa.

    Một lúc sau, bà Lan khẽ dựa đầu vào vai ông, như một người phụ nữ trẻ sau những năm tháng mệt mỏi. Bà nói khẽ, gần như thì thầm: “Cuối cùng anh cũng về rồi.” Lâm siết tay bà. Nhưng ông không biết rằng sau bao nhiêu năm chờ đợi, trái tim già yếu của bà Lan đã quá mệt mỏi. Bà nhắm mắt lại, một nụ cười rất nhẹ vẫn còn trên môi. Như thể cuối cùng bà cũng đã hoàn thành lời hứa của mình. Lâm khẽ gọi: “Lan?” Không có tiếng trả lời. Chỉ còn gió chiều thổi qua ngã ba Đồng Lộc, và bàn tay bà vẫn nằm yên trong tay ông – nhẹ, bình yên, như một người vừa kết thúc cuộc chờ đợi dài nhất của cuộc đời mình.

    Đêm hôm đó, người ta nói rằng ở ngã ba Đồng Lộc có một người lính già ngồi rất lâu bên chiếc ghế gỗ nhỏ. Ông ngồi đó, nắm lấy bàn tay của một bà lão đã ra đi và thầm thì một lời hứa mà lẽ ra ông nên nói từ 45 năm trước: “Lan, anh đã về rồi.” Câu chuyện về người phụ nữ chờ đợi ở ngã ba Đồng Lộc sau đó được kể lại cho rất nhiều người. Không phải như một câu chuyện buồn, mà như một lời nhắc rằng có những lời hứa trong chiến tranh, dù phải chờ cả một đời người, vẫn có người giữ trọn. Và có những cuộc gặp lại, dù chỉ kéo dài một khoảnh khắc, cũng đủ để lấp đầy 45 năm chờ đợi.

  • Sau khi họp lớp, cả nhóm lập kèo đi ka/raoke, tôi vui vẻ đứng ra trả trước, nghĩ bụng về chia nhau, nào ngờ hôm sau các bạn lạnh t/anh không nhắc gì đến t/iền bạc, tôi đến từng nhà gửi cho tờ giấy báo, và rồi đúng 7 ngày sau..

    Buổi họp lớp sau nhiều năm không gặp

    Tôi họ Lưu, năm nay 35 tuổi, có công việc ổn định và cuộc sống khá thoải mái. Tôi sinh ra ở nông thôn, tuổi thơ không mấy dư dả. Cha tôi làm kinh doanh, còn mẹ ở nhà lo việc gia đình.

    Cuộc sống của tôi bắt đầu thay đổi khi tôi học lớp 8. Lúc đó việc làm ăn của cha thuận lợi hơn, kinh tế gia đình dần khá lên.

    Từ khi điều kiện tốt hơn, mẹ cũng không còn quản lý chặt việc chi tiêu của tôi.

    Thời học cấp 2, mỗi khi bạn bè rủ nhau đi ăn uống hay đi chơi, tôi thường là người trả tiền. Hầu như mọi cuộc vui đều do tôi đứng ra thanh toán. Khi đó tôi không nghĩ nhiều, chỉ cảm thấy bạn bè vui vẻ là được.

    Lên cấp 3, tôi chuyển sang học ở một ngôi trường tốt hơn. Ở đó, tôi nhận ra cách cư xử giữa bạn bè khác hẳn.

    Mỗi lần tụ tập, mọi người thường chia đều chi phí, không ai mặc nhiên để một người trả tiền cho cả nhóm.

    Sau khi tốt nghiệp đại học, tôi không đi làm thuê mà dùng tiền tích lũy của gia đình để đầu tư kinh doanh. May mắn là con đường này khá thuận lợi, giúp tôi có cuộc sống ổn định như bây giờ.

    Gần đây, lớp cấp 2 của tôi tổ chức họp lớp. Ban đầu tôi không định tham gia vì công việc bận rộn và cũng đã nhiều năm không còn liên lạc với các bạn cũ. Nhưng lớp trưởng liên tục gọi điện rủ rê, còn trêu rằng tôi “giờ làm ăn lớn nên chê bạn cũ nghèo”.

    Nghe vậy, tôi đành nhận lời đi họp lớp.

    Bị ép bao cả buổi họp lớp vì giàu, tôi đứng lên trả phần mình rồi đi về khiến tất cả sững sờ - Ảnh 1.

    #adx-inImage iframe {background:transparent !important;}

    Trong hơn 20 người tham dự buổi họp lớp hôm đó, chỉ có một người lên tiếng khuyên mọi người đừng gọi món quá tay. Ảnh minh họa

    Bạn bè gọi món đắt khi biết tôi trả tiền họp lớp

    Hôm đó tôi đến nhà hàng khá muộn vì vừa họp xong công việc. Khi tôi đến nơi, mọi người đã ăn uống rôm rả.

    Theo thói quen, tôi tự rót một ly rượu coi như “phạt” vì đến trễ. Không ngờ một vài người bạn cũ liền nói đùa:“Phạt thì phạt, nhưng hôm nay ông phải bao nhé. Trong lớp giờ chỉ có ông là đại gia thôi”.

    Tôi nhìn quanh bàn ăn lúc đó chỉ có vài món đơn giản, nghĩ rằng chi phí chắc cũng không đáng bao nhiêu. Vì thế tôi cười nói: “Được thôi, coi như hôm nay tôi mời mọi người, lâu rồi mới họp lớp”.

    Không ngờ sau câu nói đó, không khí trên bàn ăn bắt đầu thay đổi.

    Khi biết tôi sẽ trả tiền cho buổi họp lớp, nhiều người bắt đầu gọi thêm món. Ban đầu chỉ là vài món hải sản, sau đó dần dần xuất hiện những món đắt tiền như bào ngư, cua biển.

    Thậm chí có người còn gọi hẳn một chai rượu hơn 3.000 tệ, tương đương khoảng 11 triệu đồng.

    Nhìn cảnh đó, tôi thật sự cạn lời. Tiền của tôi cũng không phải từ trên trời rơi xuống. Ngay cả khi tiếp khách quan trọng trong công việc, tôi còn phải cân nhắc rất lâu mới dám gọi chai rượu đắt như vậy.

    Trong hơn 20 người tham dự buổi họp lớp hôm đó, chỉ có một người lên tiếng khuyên mọi người đừng gọi món quá tay. Cậu ấy nói kiếm tiền không dễ, đừng vì có người trả mà gọi quá nhiều.

    Nhưng lời khuyên ấy nhanh chóng bị bỏ qua. Một vài người còn cười nói: “Có bạn giàu thì phải cho tụi mình hưởng ké chứ”.

    Tôi chỉ im lặng nhìn, không nói thêm gì.

    Hóa đơn họp lớp gần 37 triệu đồng và quyết định bất ngờ của tôi

    Khi bữa ăn gần kết thúc, một người gọi nhân viên phục vụ đến để gói thức ăn mang về. Thấy vậy, những người khác cũng làm theo. Nhiều phần bào ngư được yêu cầu đóng gói, mỗi người vài phần.

    Chỉ có cậu bạn lúc nãy lên tiếng khuyên mọi người là không gọi thêm gì cả.

    Cuối cùng, nhân viên mang hóa đơn đến. Tổng chi phí của buổi họp lớp lên tới 9.956 tệ (hơn 37 triệu đồng). Mọi ánh mắt trong bàn tiệc lập tức đổ dồn về phía tôi.

    Tôi bình tĩnh lấy ra 400 tệ (khoảng 1,5 triệu đồng) đặt lên bàn rồi nói: “Chúng ta họp lớp, ban đầu đã nói là chia đều theo đầu người. Mỗi người 383 tệ, tôi trả 400 tệ, phần dư coi như tiền tip”.

    Nói xong, tôi đứng dậy rời khỏi nhà hàng.

    Cả bàn tiệc gần như chết lặng. Có lẽ họ nghĩ tôi sẽ vì sĩ diện mà thanh toán toàn bộ hóa đơn. Nhưng khi mọi người đã làm quá như vậy, tôi không thấy lý do gì phải tiếp tục chiều theo.

    Sau buổi họp lớp, tôi giúp người duy nhất biết nghĩ cho người khác

    Sau buổi họp lớp hôm đó, tôi chủ động tìm lại người bạn duy nhất đã lên tiếng can ngăn mọi người.

    Hai chúng tôi trò chuyện nhiều hơn và tôi mới biết hoàn cảnh của cậu ấy khá khó khăn. Cha cậu đang nằm viện, vợ phải túc trực chăm sóc, còn cậu thì bôn ba kiếm tiền để nuôi con gái đang đi học.

    Biết được tình hình đó, tôi chuyển cho cậu 30.000 tệ, tương đương khoảng 111 triệu đồng, nói rằng cứ coi như tôi cho vay tạm.

    Cậu ấy liên tục cảm ơn và nói không dám nhận vì sợ không trả nổi. Tôi chỉ cười và nói: “Khi nào có thì trả, chưa có cũng không sao”.

    Cậu ấy nghẹn ngào nói tôi là người duy nhất chịu giúp, vì ngay cả người thân và bạn bè thân thiết cũng không ai dám cho vay.

    Sau buổi họp lớp, tôi hiểu rõ hơn về tình bạn

    Sau câu chuyện họp lớp này, tôi nhận ra một điều: nhiều người nghĩ rằng ai có tiền thì phải có nghĩa vụ giúp đỡ người khác. Nếu không làm vậy, họ sẽ bị cho là keo kiệt hay “giàu mà không biết chia sẻ”.

    Nhưng tôi cũng tự hỏi, nếu một ngày mình mất hết tiền, liệu những người từng vui vẻ trong buổi họp lớp hôm đó có còn quan tâm đến mình hay không.

    Câu chuyện là chia sẻ của anh Lưu về buổi họp lớp sau khi được đăng tải trên Toutiao (MXH Trung Quốc) đã thu hút nhiều sự chú ý.

    Theo Gia đình và Xã hội